Việt Nam trước "khoảnh khắc Esbjerg”: Từ tài sản dầu khí đến trung tâm năng lượng tái tạo

23/09/2026 35 lượt xem Tác giả: Phương Thảo
Theo ông Phạm Quý Ngọc, Phòng khí, điện và năng lượng mới, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI, đơn vị trực thuộc PETROVIETNAM), Việt Nam có thể đứng trước “khoảnh khắc Esbjerg” - thời điểm tái định hướng những năng lực đã tích lũy từ dầu khí để chuyển thành động lực cho ngành điện gió ngoài khơi và chuỗi giá trị năng lượng mới.
0:00 0:00

Không chỉ là cảng cho điện gió

Phân tích của ông Phạm Quý Ngọc nhấn mạnh rằng, câu chuyện phát triển điện gió ngoài khơi của Việt Nam không chỉ dừng ở việc xây dựng các dự án nguồn điện. Quan trọng hơn là hình thành một hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ đủ năng lực, tạo nền tảng hình thành trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo (NLTT).

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh ghi nhận tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam ước khoảng 600 GW. Trong đó, điện gió ngoài khơi cấp điện trong nước dự kiến đạt 6-17 GW trong giai đoạn 2030-2035 và 114-140 GW vào năm 2050. Điện gió ngoài khơi phục vụ sản xuất năng lượng mới như hydrogen, amoniac cũng được định hướng phát triển với quy mô lớn trong dài hạn.

Quy hoạch đồng thời định hướng hình thành hai trung tâm công nghiệp - dịch vụ NLTT liên vùng vào năm 2030, cùng với mục tiêu xuất khẩu 5-10 GW điện vào năm 2035.

Từ góc nhìn của VPI, trung tâm NLTT không nên được hiểu đơn thuần là một cảng hay một khu công nghiệp. Mô hình này cần tích hợp đồng thời cảng và hậu cần hàng hải; sản xuất, chế tạo; căn cứ dịch vụ vận hành và bảo dưỡng; lưới điện và hạ tầng dùng chung; R&D, thử nghiệm và đào tạo nhân lực; sản xuất năng lượng mới như hydrogen, amoniac và phục vụ xuất khẩu.

Mục tiêu là tập trung các nguồn lực để giảm chi phí, giảm rủi ro cho các dự án điện gió ngoài khơi, đồng thời hình thành một nền tảng công nghiệp có khả năng vận hành lâu dài sau khi các dự án hoàn thành.

Lợi thế từ tài sản dầu khí

Nghiên cứu của VPI nhận định, Bà Rịa - Vũng Tàu (TP HCM) là khu vực có lợi thế đặc biệt khi xem xét phát triển trung tâm NLTT, với hệ thống bãi chế tạo dầu khí và năng lực công nghiệp ngoài khơi đã được hình thành từ trước.

Nguồn: VPI
Nguồn: VPI

Theo ông Phạm Quý Ngọc, khu vực này có các bãi chế tạo dầu khí sẵn có; cùng với đó là năng lực của PTSC và Vietsovpetro - các đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM) đã có nhiều kinh nghiệm trong chế tạo và triển khai các công trình ngoài khơi. Điều này giúp tận dụng một phần tài sản hiện hữu để phát triển chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, thay vì phải xây dựng toàn bộ năng lực từ đầu.

Trong chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi, các bãi chế tạo và năng lực nâng hạ siêu trọng có thể phục vụ chế tạo chân đế, trạm biến áp và tháp; năng lực kỹ thuật ngoài khơi, địa kỹ thuật có thể chuyển sang khảo sát, thiết kế và lắp đặt; đội tàu và logistics có thể phục vụ tập kết, vận chuyển và hỗ trợ vận hành, bảo dưỡng. Trong khi đó, kinh nghiệm bảo đảm an toàn, môi trường và nguồn nhân lực ngoài khơi từ dầu khí là nền tảng quan trọng để phát triển đội ngũ kỹ thuật cho ngành điện gió.

Nói cách khác, tài sản dầu khí khi được định hướng phù hợp sẽ trở thành tài sản chuyển dịch, tiếp tục tạo ra giá trị trong ngành NLTT.

Thực tế, năng lực của các doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi đã được chứng minh bằng các dự án quốc tế.

Tại dự án Hải Long 2&3 ở Đài Loan (Trung Quốc), với tổng công suất 1.022 MW, hai trạm biến áp ngoài khơi được thiết kế và chế tạo tại cảng PTSC ở Vũng Tàu, cùng đối tác Semco Maritime. Dự án phát điện lần đầu lên lưới vào tháng 6/2025.

Với dự án Greater Changhua 2b&4, công suất 920 MW, PTSC đã chế tạo 33 chân đế jacket dạng cọc hút cho Ørsted, sử dụng khoảng 70.000 tấn thép và tạo hàng nghìn việc làm trong chuỗi cung ứng nội địa. Các đơn hàng tiếp theo cho trạm biến áp ngoài khơi Feng Miao và Formosa 4 tiếp tục cho thấy năng lực của PTSC đang được mở rộng.

Ngày 12/9 vừa qua, tại Trung tâm Công nghiệp năng lượng và Hậu cần kỹ thuật PTSC, Vũng Tàu (TP HCM), PTSC M&C, trực thuộc Tổng công ty PTSC đã cùng các đối tác tổ chức Lễ hạ thủy và bàn giao 4 trạm biến áp ngoài khơi thuộc Dự án Baltica 2, đánh dấu cột mốc lần đầu tiên đưa các công trình điện gió ngoài khơi chế tạo tại Việt Nam đến châu Âu.

Baltica 2 là một trong những dự án điện gió ngoài khơi lớn nhất châu Âu, được triển khai tại vùng biển Baltic ngoài khơi Ba Lan. Với quy mô 107 tua-bin gió cùng tổng công suất khoảng 1,5 GW, dự án dự kiến đi vào vận hành từ quý IV/2027, cung cấp nguồn năng lượng sạch ổn định cho khoảng 2,4 triệu hộ gia đình Ba Lan. Đây là dự án hạ tầng năng lượng trọng điểm do PGE Group hợp tác phát triển cùng Ørsted - tập đoàn năng lượng Đan Mạch hàng đầu thế giới về điện gió ngoài khơi.

Những kết quả trên cho thấy, Bà Rịa - Vũng Tàu không chỉ có hạ tầng, mà đã hình thành năng lực tham gia chuỗi giá trị điện gió ngoài khơi quốc tế.

Baltica 2 đánh dấu lần đầu tiên công trình điện gió ngoài khơi do PTSC M&C thực hiện được xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu.
Baltica 2 đánh dấu lần đầu tiên công trình điện gió ngoài khơi do PTSC M&C thực hiện được xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu.

“Khoảnh khắc Esbjerg” của Việt Nam

Chính từ nền tảng đó, ông Phạm Quý Ngọc đưa ra ý tưởng “Khoảnh khắc Esbjerg của Việt Nam”.

Esbjerg của Đan Mạch từng là một cảng dầu khí và sau đó được chuyển đổi thành cảng điện gió ngoài khơi hàng đầu châu Âu. Theo cách tiếp cận của VPI, Việt Nam có xuất phát điểm tương đồng: 4 thập kỷ phát triển dầu khí ngoài khơi đã tạo dựng năng lực về hạ tầng, công nghệ, logistics, kỹ thuật và nhân lực, có thể được tái định hướng cho điện gió ngoài khơi.

Theo vị chuyên gia này, để biến lợi thế sẵn có thành một trung tâm NLTT thực sự, cần giải quyết những mắt xích còn thiếu trong chuỗi giá trị.

Chuyên gia của VPI cũng chỉ ra các lĩnh vực cần phát triển hoặc thu hút đầu tư gồm: vỏ và cánh tuabin, tháp và đoạn chuyển tiếp ở quy mô sản xuất hàng loạt, cáp ngầm, tàu lắp đặt và tàu dịch vụ chuyên dụng, hệ thống chứng nhận, thử nghiệm và thiết bị O&M.

Đặc biệt, các danh mục dự án điện gió ngoài khơi trong nước được xác định cho giai đoạn 2030-2035 là điều kiện tiên quyết để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực này.

Nếu Esbjerg cho thấy một trung tâm dầu khí có thể trở thành hạt nhân của ngành điện gió ngoài khơi, thì Bà Rịa - Vũng Tàu đang có những điều kiện thuận lợi để Việt Nam nghiên cứu một hướng đi tương tự.

Nhưng “khoảnh khắc Esbjerg” không chỉ là câu chuyện chuyển đổi một bãi chế tạo hay một cảng biển. Đó là quá trình chuyển đổi cả một hệ sinh thái năng lực: từ cơ sở vật chất, đội tàu, kỹ thuật ngoài khơi đến nhân lực, tiêu chuẩn an toàn, môi trường và kinh nghiệm quản lý dự án thành năng lực phục vụ ngành năng lượng mới.

Để hiện thực hóa điều đó, VPI đặt ra những vấn đề cần tiếp tục được giải quyết về trình tự đầu tư cảng, lưới điện và bãi chế tạo; vai trò của Nhà nước, PETROVIETNAM, PTSC, doanh nghiệp tư nhân và các mô hình liên doanh; đồng thời cần có khung pháp lý xác định vị trí trung tâm NLTT, cấp phép khảo sát đáy biển, cơ chế đầu tư cảng và lộ trình nội địa hóa.

 

Chia sẻ: