ĐBQH Bùi Thị Kim Tuyến:

Khôi phục Quỹ tìm kiếm, thăm dò dầu khí: Tạo cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp

13/08/2026 171 lượt xem Tác giả: Mạnh Tưởng
Trao đổi với phóng viên bên lề Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến (Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ) cho rằng, việc nghiên cứu khôi phục Quỹ rủi ro tìm kiếm, thăm dò dầu khí (Quỹ TKTD) có thể tạo cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp, tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, qua đó giúp Petrovietnam chủ động hơn trong đầu tư vào những khu vực tiềm năng nhưng rủi ro cao.
0:00 0:00

Trao đổi với phóng viên bên lề Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến (Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ) cho rằng, việc nghiên cứu khôi phục Quỹ rủi ro tìm kiếm, thăm dò dầu khí (Quỹ TKTD) có thể tạo cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp, tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, qua đó giúp Petrovietnam chủ động hơn trong đầu tư vào những khu vực tiềm năng nhưng rủi ro cao.

Đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến (Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ)
Đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến (Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ)

PV: Thưa bà, dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) mở rộng thẩm quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) trong phê duyệt, chấp thuận và giám sát một số hoạt động dầu khí. Theo bà, cơ chế phân quyền cần được thiết kế như thế nào để Petrovietnam có thể chủ động quyết định các vấn đề chuyên môn, kỹ thuật và triển khai hợp đồng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm pháp lý khi thực hiện quyền đại diện nước chủ nhà?

Đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến: Việc mở rộng thẩm quyền cho Petrovietnam trong hoạt động dầu khí đã thể hiện sự thay đổi về tư duy quản lý, chuyển từ mô hình quản lý hành chính trực tiếp sang giao quyền nhiều hơn cho chủ thể có đủ năng lực chuyên môn và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện. Đây là một bước tiến phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dầu khí trong bối cảnh các dự án mới có mức độ rủi ro cao hơn, quy mô đầu tư lớn hơn và đòi hỏi quá trình ra quyết định nhanh hơn.

Tuy nhiên, việc Luật giao thêm quyền mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải có cơ chế thực thi tương ứng. Theo tôi, phân cấp, phân quyền cho Petrovietnam cần được thiết kế theo hướng thực chất và rõ trách nhiệm, tránh tình trạng giao quyền nhưng vẫn phải qua nhiều tầng nấc trình duyệt. Petrovietnam là đơn vị trực tiếp thực hiện các hoạt động dầu khí, có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn, vì vậy cần được trao quyền chủ động quyết định đối với những vấn đề thuộc phạm vi chuyên môn, kỹ thuật và triển khai hợp đồng.

Quan trọng hơn, khi Petrovietnam thực hiện vai trò đại diện nước chủ nhà, pháp luật phải xác định rõ quyền hạn đi cùng trách nhiệm, đâu là thẩm quyền của Tập đoàn, đâu là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước. Có như vậy mới tránh được tâm lý e ngại trách nhiệm, đồng thời tạo điều kiện để Petrovietnam thực sự chủ động trong quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

PV: Thưa bà, bà vừa nhấn mạnh quyền hạn phải đi cùng trách nhiệm. Theo bà, việc xác định rõ vai trò “đại diện nước chủ nhà” có ý nghĩa như thế nào đối với Petrovietnam? Các nghĩa vụ đã thực hiện trước đây trong hợp đồng dầu khí cần được quy định như thế nào?

Đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến: Đây là vấn đề cần được làm rõ trong Luật Dầu khí (sửa đổi). Trên thực tế, Petrovietnam đang thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà trong các hợp đồng dầu khí theo nhiệm vụ Nhà nước giao. Đây là vai trò đặc thù, không phải chức năng quản lý nhà nước hay hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, do đó cần được luật hóa rõ về tư cách, quyền hạn và trách nhiệm.

Việc luật hóa rõ vai trò “đại diện nước chủ nhà” đặc biệt quan trọng trong trường hợp phát sinh tranh chấp, nhất là tranh chấp quốc tế. Khi chủ thể đại diện nước chủ nhà và phạm vi trách nhiệm được xác định rõ, Petrovietnam sẽ có đầy đủ tư cách để tham gia xử lý, giải quyết tranh chấp với nhà đầu tư, qua đó tạo sự rõ ràng về trách nhiệm pháp lý, góp phần giảm thiểu rủi ro cho Nhà nước.

Đồng thời, Luật cần có quy định chuyển tiếp đối với các nghĩa vụ Petrovietnam đã thực hiện với tư cách đại diện nước chủ nhà trong các hợp đồng trước đây, nhằm bảo đảm tính liên tục của hợp đồng và tránh phát sinh khoảng trống pháp lý. Trong đó, cần làm rõ cơ chế xử lý các khoản nghĩa vụ mà Petrovietnam đã thực hiện thay cho nước chủ nhà, cũng như nguồn thu từ phần dầu khí thuộc quyền lợi của nước chủ nhà để bảo đảm các nghĩa vụ liên quan.

Tôi cũng cho rằng, Luật nên sử dụng khái niệm chung “Cơ quan đại diện nước chủ nhà”, thay vì quy định cứng tên một doanh nghiệp. Cách thiết kế này vừa tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho Petrovietnam thực hiện nhiệm vụ hiện nay, vừa bảo đảm tính linh hoạt để Nhà nước có thể tổ chức, điều chuyển chức năng này phù hợp với yêu cầu quản lý trong tương lai mà không nhất thiết phải sửa Luật.

ĐBQH Bùi Thị Kim Tuyến tại buổi góp ý vào dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
ĐBQH Bùi Thị Kim Tuyến tại buổi góp ý vào dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).

PV: Hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí ngày càng rủi ro, chi phí lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Theo bà, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần có cơ chế tài chính như thế nào để Petrovietnam chủ động đầu tư vào các khu vực tiềm năng nhưng rủi ro cao? Việc đề xuất khôi phục Quỹ TKTD có phải là một giải pháp cần thiết để chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp?

Đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến: Theo tôi, tìm kiếm, thăm dò là khâu có mức độ rủi ro cao trong chuỗi hoạt động dầu khí. Doanh nghiệp phải đầu tư nguồn vốn lớn cho khảo sát, khoan thăm dò nhưng phát hiện trữ lượng và khai thác thương mại không chắc chắn, trong khi các khu vực tiềm năng mới ngày càng phức tạp và thời gian thu hồi vốn kéo dài.

Nếu toàn bộ rủi ro tiếp tục đặt lên vai doanh nghiệp, sẽ khó tạo động lực đầu tư vào những khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng quốc gia. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp, trong đó khôi phục Quỹ TKTD được xem là một công cụ phù hợp.

Mục tiêu không phải bao cấp cho hoạt động đầu tư, mà tạo thêm nguồn lực để Petrovietnam có thể tiếp tục đầu tư vào những khu vực khó, có tiềm năng nhưng rủi ro cao.

PV: Nếu khôi phục lại Quỹ TKTD, theo bà, Quỹ nên được hình thành và vận hành theo nguyên tắc nào để Petrovietnam mạnh dạn đầu tư vào các dự án rủi ro cao?

Đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến: Theo tôi, nếu thành lập Quỹ TKTD, nguyên tắc đầu tiên là phải bảo toàn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhà nước. Quỹ được hình thành để chia sẻ rủi ro trong những hoạt động mà doanh nghiệp khó có thể tự gánh chịu, chứ không phải để bù đắp cho các dự án đầu tư kém hiệu quả.

Nguồn lực của Quỹ nên ưu tiên cho các nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò có ý nghĩa chiến lược, tiềm năng nhưng rủi ro cao. Việc sử dụng vốn phải dựa trên tiêu chí, quy trình và trách nhiệm rõ ràng, đi cùng cơ chế đánh giá, giám sát hiệu quả.

Tôi cho rằng, Petrovietnam cần được trao quyền chủ động trong quản lý và sử dụng Quỹ, nhất là với các quyết định chuyên môn, kỹ thuật và lựa chọn phương án đầu tư trong phạm vi được phê duyệt. Nhà nước nên kiểm soát ở cấp chiến lược thông qua mục tiêu, hạn mức, tiêu chí và cơ chế giám sát, thay vì can thiệp vào từng quyết định cụ thể.

Nếu nguồn lực đã được bố trí nhưng việc sử dụng vẫn phải qua nhiều tầng nấc phê duyệt thì Quỹ sẽ khó phát huy hiệu quả. Quan trọng nhất là phải thiết kế cơ chế để người quyết định có thể hành động trong khuôn khổ pháp luật, đi cùng trách nhiệm rõ ràng và cơ chế kiểm soát phù hợp.

PV: Dự thảo Luật cũng đang mở ra hướng đi mới cho lĩnh vực thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), trong đó Petrovietnam có lợi thế về kinh nghiệm dầu khí, hạ tầng và khả năng tận dụng các mỏ suy giảm để lưu trữ carbon. Vậy theo bà, Luật cần bổ sung những cơ chế nào về đầu tư, chia sẻ rủi ro và trách nhiệm dài hạn để Petrovietnam có thể trở thành lực lượng nòng cốt, tiên phong triển khai lĩnh vực này?

Đại biểu Bùi Thị Kim Tuyến: CCS là một hướng đi có nhiều tiềm năng nhưng cũng là lĩnh vực hoàn toàn mới, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Vì vậy, nếu Luật chỉ dừng ở việc quy định khung pháp lý cho CCS mà chưa có cơ chế đầu tư và chia sẻ rủi ro phù hợp thì rất khó đưa các dự án vào triển khai thực tế.

Petrovietnam có lợi thế rất lớn về kinh nghiệm trong hoạt động dầu khí, hệ thống hạ tầng, nhân lực kỹ thuật và đặc biệt là khả năng tận dụng các mỏ dầu khí suy giảm để lưu trữ carbon. Tôi cho rằng, cần có cơ chế pháp lý rõ ràng để Petrovietnam được chủ động tham gia từ khảo sát, thu giữ, vận chuyển đến lưu trữ carbon; đồng thời có chính sách phù hợp về đầu tư, giá dịch vụ và tín chỉ carbon để tạo nguồn thu cho dự án.

Một vấn đề rất quan trọng là trách nhiệm dài hạn đối với lượng carbon sau khi được lưu trữ. Luật cần xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong từng giai đoạn, tiêu chuẩn giám sát, xử lý rủi ro và thời điểm chuyển giao trách nhiệm cho Nhà nước nếu có. Đây là điều kiện để doanh nghiệp có thể đánh giá được rủi ro và quyết định đầu tư.

Theo tôi, Nhà nước nên tạo hành lang pháp lý và cơ chế chia sẻ rủi ro ở giai đoạn đầu, trong khi Petrovietnam với lợi thế sẵn có có thể đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt hình thành thị trường CCS tại Việt Nam. Nếu thiết kế được cơ chế rõ ràng, minh bạch về quyền, trách nhiệm và hiệu quả kinh tế, CCS không chỉ là một lĩnh vực giảm phát thải mà còn có thể trở thành một hướng phát triển mới của Petrovietnam trong quá trình chuyển dịch năng lượng.

PV: Xin cảm ơn bà về cuộc trao đổi này!

Chia sẻ: