Phân tích ngày 11/07/2022 :Liệu Kazakhstan có thể đa dạng hóa nguồn cung cấp dầu mỏ?

11/07/2022 1338 lượt xem
Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev (07/07) đã chỉ thị cho công ty dầu khí nhà nước Kazmunaigas tìm phương án tốt nhất để triển khai Tuyến vận tải quốc tế xuyên Caspian (TITR) nhằm đa dạng hóa kênh xuất khẩu dầu của nước này.

Khả năng thu hút các nhà đầu tư từ dự án dầu khí Tengiz (với sự tham gia của các tập đoàn dầu khí: Chevron sở hữu 50% cổ phần, ExxonMobil sở hữu 25%, Kazmunaigas sở hữu 20% và Lukoil Lukarco sở hữu 5%) cũng sẽ được tính đến. Tổng thống Tokayev cũng chỉ thị cho Chính phủ cùng với Quỹ quốc gia Samruk-Kazyna thực hiện các biện pháp nhằm tăng công suất các đường ống dẫn dầu Atyrau-Kenkiyak và Kenkiyak-Kumkol (đường ống cho phép vận chuyển dầu từ phía tây của Kazakhstan đến biên giới với Trung Quốc).

Tuyên bố được ông Tokayev đưa ra trong bối cảnh nước này có thể bị đình chỉ xuất khẩu dầu thô thông qua hệ thống đường ống dẫn dầu của Tập đoàn đường ống Caspi (Caspian Pipeline Consortium - CPC). 

 

Trước đó vào ngày 06/07, đại diện công ty CPC thông báo rằng, các hoạt động của cảng xuất khẩu dầu trên Biển Đen sẽ bị đình chỉ theo quyết định của Tòa án quận Primorsky (Novorossiysk) trong 30 ngày để khắc phục những sai phạm được xác định bởi Rostransnadzor. Công ty CPC cũng cho biết, các sai phạm được phát hiện sau cuộc kiểm toán do Phó Thủ tướng Nga Victoria Abramchenko khởi xướng vào tháng 3/2022. CPC đã gửi đơn kháng cáo lên Tòa án Vùng Krasnodar để đình chỉ quyết định của Tòa án quận Primorsky. Việc xem xét đơn kháng cáo sẽ bắt đầu từ ngày 11/07.

Vào tháng 3/2022, việc bơm dầu thô tại bến cảng của CPC ở Biển Đen đã bị tạm ngừng do hai trong số 3 đơn vị neo đậu từ xa bị hư hại do bão. Đến tháng 6 vừa qua, các chuyến vận tải dầu thô lại bị cắt giảm do nhu cầu xử lý bom mìn từ Chiến tranh thế giới thứ hai ở khu vực cảng.

 

Theo Bộ Năng lượng Kazakhstan, xuất khẩu dầu thô của nước này trong năm 2021 lên tới 67,6 triệu tấn. Thống kê của CPC cho thấy, 87% tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu của Kazakhstan (tức 53,1 triệu tấn) là vận chuyển qua đường ống của công ty. Trong đó, CPC vận chuyển 26,6 triệu tấn dầu từ mỏ Tengiz (lớn nhất Kazakhstan); 15,74 triệu tấn từ mỏ Kashagan và 10,29 triệu tấn từ mỏ Karachaganak.

Dầu thô của Kazakhstan cũng được vận chuyển qua hệ thống đường ống Transneft, trộn với dầu thô của Nga để bơm lên các tàu chở dầu tại cảng Novorossiysk (Biển Đen) và cảng Ust-Luga (Biển Baltic). Theo Cục điều tiết năng lượng, Bộ Năng lượng Nga (CDU TEK), trong năm 2021, hai cảng Novorossiysk và Ust-Luga đã vận chuyển lần lượt 7,1 triệu tấn và 5,9 triệu tấn dầu của Kazakhstan.

Một kênh xuất khẩu dầu thô khác của Kazakhstan là bằng các tàu chở dầu từ cảng Aktau (công suất thiết kế đạt 11,6 triệu tấn/năm) đến Baku, Azerbaijan. Sau đó, dầu thô được bơm tiếp đến Thổ Nhĩ Kỳ thông qua đường ống Baku - Tbilisi - Ceyhan (BTC Pipeline) và giao tiếp đến khách hàng bằng tàu chở dầu. Công suất của BTC Pipeline là 50 triệu tấn mỗi năm. Đường ống này cũng cung cấp dầu từ Azerbaijan và Turkmenistan. Ngoài ra, Kazakhstan còn cung cấp dầu cho Trung Quốc. Dầu thô được vận chuyển trên các tuyến đường ống Kenkiyak - Kumkol (công suất 10 triệu tấn/năm) và Atasu-Alashankou (công suất 20 triệu tấn/năm). Đường ống dẫn dầu Atasu-Alashankou hiện chủ yếu cung cấp dầu của Nga đến Trung Quốc với công suất thiết kế 10 triệu tấn/năm.

 

Các chuyên gia tại Quỹ An ninh Năng lượng Quốc gia (Quỹ ANNLQG) tại Nga cho biết, lựa chọn tối ưu nhất cho Kazakhstan trong trường hợp CPC ngừng hoạt động là tăng nguồn cung dầu ra thị trường thông qua các đường ống dẫn dầu khác của Nga. Theo đó, sản lượng dầu thô Kazakhstan được vận chuyển qua hệ thống Transneft có thể đạt 17 triệu tấn mỗi năm. Tuy nhiên, tuyên bố của ông Tokayev cho thấy Kazakhstan không muốn tiếp tục bơm dầu thô qua Nga. Trong trường hợp này, Kazakhstan sẽ gặp khó khăn trong việc gia tăng xuất khẩu dầu qua các kênh khác. Theo các chuyên gia Nga, để chuyển hướng tất cả khối lượng dầu từ đường ống CPC đến BTC Pipeline, Kazakhstan cần có cả một đội tàu chở dầu trên Biển Caspi. Bên cạnh đó, phương án xây dựng một đường ống dẫn dầu mới qua Biển Caspi tới Baku phải nhận được sự đồng thuận của tất cả các nước Caspi và rất có thể Nga và Iran sẽ phản đối đề xuất này. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng vận chuyển dầu ở Azerbaijan, Gruzia và Thổ Nhĩ Kỳ cũng cần phải mở rộng để đáp ứng được lượng dầu từ CPC. Tổng đầu tư vào đây có thể vượt quá 10 tỷ USD.

Các chuyên gia của Quỹ ANNLQG nhận định, phương án tăng nguồn cung dầu thô cho Trung Quốc sẽ phụ thuộc vào các cuộc đàm phán. Trong điều kiện mà Nga giảm giá bán dầu của mình cho Trung Quốc, Kazakhstan sẽ gặp nhiều khó khăn trên bàn đàm phán. Một số chuyên gia tại Quỹ ANNLQG cho biết thêm, việc triển khai các dự án nêu trên của Kazakhstan sẽ đòi hỏi một thời gian dài.

 

Không rõ liệu các nhà khai thác dầu của nước này có nghiên cứu khả thi những dự án nêu trên hay không. Còn trong năm 2023 tới, Kazakhstan chắc chắn sẽ phải sử dụng đường ống dẫn dầu của Nga. Tuyên bố của nhà lãnh đạo Kazakhstan giống như một tín hiệu lo ngại về điểm dừng tiếp theo của CPC. Do đó, Kazakhstan phát đi tín hiệu kêu gọi Nga phải tính đến lợi ích của mình. Ngoài ra, các vấn đề với CPC đã nảy sinh từ lâu và điều này ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách của nước này. Do đó, quan điểm của phía Kazakhstan là có thể hiểu được.

Các chiến lược thăm dò dầu khí của NOCs đang phát triển như thế nào?

Các công ty dầu khí quốc gia (NOCs) đã khám phá ra 41% nguồn tài nguyên dầu khí mới của thế giới kể từ năm 2011. Đồng thời, thị phần của họ trên thị trường dầu mỏ toàn cầu đã tăng lên đáng kể từ năm 2018. Khi quá trình chuyển đổi năng lượng diễn ra nhanh chóng, câu hỏi đặt ra là các chiến lược thăm dò của họ đang phát triển như thế nào.

Những thống kê của Wood Mackenzie cho thấy, 7 NOCs từ khu vực Trung Đông, Nga và Venezuela đang sở hữu một nửa trữ lượng tài nguyên dầu khí còn lại của thế giới. Với trữ lượng đó, những NOCs lớn này có thể tiếp tục sản xuất dầu mỏ với tốc độ hiện tại trong vòng từ 40 - 60 năm nữa. Và thậm chí khung thời gian này còn kéo dài hơn nữa nếu họ chuyển đổi một số thứ hiện được coi là tài nguyên tiềm năng thành tài nguyên thương mại.

NOCs luôn đóng góp hơn 30% nguồn tài nguyên mới được phát hiện trên thế giới. Và tỷ lệ đó đã đạt hơn 50% trong vài năm qua. Hiển nhiên, không phải tất cả các NOCs đều là các công  ty tìm kiếm, thăm dò dầu khí. Vai trò của NOCs trong hoạt động thăm dò dầu khí đối với những nước có nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú khác với NOCs của các nước nhập khẩu. Các nhà nhập khẩu dầu khí cần nhanh chóng thương mại hóa các nguồn tài nguyên mới để đáp ứng các yêu cầu về an ninh năng lượng.

Mặc dù có thể giả định rằng, NOCs chuyên xuất khẩu dầu mỏ sẽ vượt xa NOCs chuyên nhập khẩu về sản lượng dự báo từ hoạt động thăm dò, nhưng trữ lượng dầu khí mới được phát hiện bởi các NOCs ở các nước nhập khẩu (từ trữ lượng dầu mới của Guyana đến trữ lượng khí đốt mới của Thổ Nhĩ Kỳ) đang tăng lên.

Theo tỷ lệ % tổng sản lương, có sự khác biệt lớn giữa hai nhóm. Đối với NOCs ở những nước xuất khẩu dầu, trữ lượng dầu khí mới sẽ đóng góp tối đa 4% sản lượng trong tương lai của họ. Còn đối với NOCs tại các nước nhập khẩu dầu, trữ lượng mới phát hiện sẽ đóng góp tới 20% sản lượng của họ trong vòng 1 thập kỷ tới.

Kể từ năm 2011, NOCs đã phát hiện hơn 100 tỷ thùng dầu quy đổi, gấp đôi so với các majors. Tuy nhiên, các majors lại có kết quả tốt hơn đáng kể về mặt thương mại. Khoảng 2/3 trữ lượng được các majors phát hiện được coi là tài nguyên khả thi. Trong khi đó, đối với các NOCs, 2/3 trữ lượng vẫn được coi là dự phòng. Một sự tương phản lớn khác là hơn 75% khám phá của các majors là ở các vùng nước sâu (Petronas là một ngoại lệ), trong khi đối với NOCs, tỷ lệ này chỉ bằng 1/3.

Trung Quốc đang chọn lựa loại dầu tốt nhất cho mình

Nga đã giữ vị trí dẫn đầu về xuất khẩu dầu thô sang Trung Quốc trong hai tháng 5 và 6 vừa qua, đẩy KSA xuống vị trí thứ hai. Trong khi đó, thị phần dầu từ Trung Đông và châu Phi trên thị trường Trung Quốc đang giảm. Theo thống kê của các công ty Vortex, Kpler và Refinitiv,Nga tiếp tục vượt qua KSA để giữ vững vị trí là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Trung Quốc trong tháng 6 vừa qua.

Sản lượng dầu thô Nga được vận chuyển bằng đường biển và đường ống trong tháng 6 xấp xỉ mức của tháng 5 (khoảng 2 triệu thùng/ngày). Hiện tại, Nga đang cung cấp 15% nhu cầu dầu của Trung Quốc. Theo Refinitiv, nguồn cung dầu từ KSA cho Trung Quốc trong tháng 6 đã giảm xuống còn 1,3 triệu thùng/ngày - mức thấp nhất trong vòng 2 năm trở lại đây. Trong khi đó, xuất khẩu dầu thô Nga bằng đường biển đã tăng từ 1,04 triệu thùng/ngày lên 1,15 triệu thùng/ngày. Trước đó vào tháng 5, các công ty sản xuất dầu mỏ Nga đã bắt đầu chuyển hướng xuất khẩu từ phương Tây sang phương Đông. Do đó, lượng dầu Nga giao cho Trung Quốc bằng đường biển đã tăng lên mức kỷ lục 1,1 triệu thùng/ngày.

Trong tháng 6, các lô dầu thô khác được Nga xuất sang Trung Quốc thông qua đường ống Skovorodino-Mohe (một nhánh ngoài đường ống dẫn dầu Đông Siberia - Thái Bình Dương (ESPO)) và đường ống Atasu-Alashankou đạt tổng cộng khoảng 880.000 thùng mỗi ngày. Giới thị trường cho rằng, công suất vận chuyển dầu thô qua các đường ống này đã đạt mức tối đa có thể. Thông qua đường ống dẫn dầu Skovorodino-Mohe với công suất thiết kế 600.000 thùng/ngày (tương đương 30 triệu tấn/năm), Rosneft đang thực hiện hợp đồng cung cấp dầu dài hạn cho tập đoàn dầu khí CNPC của Trung Quốc.

Kể từ tháng 5, Trung Quốc và Ấn Độ đã bắt đầu nhanh chóng mua dầu thô Nga, điều mà nhiều công ty châu Âu đã từ chối do lo ngại các lệnh trừng phạt thứ cấp từ phương Tây mà Mỹ đứng đầu. Trong tháng 5/2022, cả hai quốc gia này đều tăng lượng dầu mua từ LB Nga thêm 1 triệu thùng/ngày so với tháng 4. Vào đầu năm 2022, trước khi Nga bắt đầu chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine, sản lượng dầu thô xuất khẩu của Nga đạt khoảng 5 triệu thùng/ngày. Nguồn cung cho Trung Quốc và Ấn Độ gia tăng đáng kể cho phép các công ty dầu mỏ Nga vượt qua các lệnh trừng phạt của phương Tây. Đồng thời, các nhà máy lọc dầu của Trung Quốc và Ấn Độ tăng đáng kể lợi nhuận từ hoạt động lọc dầu do chi phí nguyên liệu đầu vào thấp.

Theo số liệu của Vortex, công ty thương mại dầu khí Unipec (Trung Quốc) đã mua 12 chuyến dầu thô từ cảng Kozmino (Viễn Đông) – điểm cuối của đường ống chính ESPO. Cảng nước sâu Kozmino có khả năng tiếp nhận tàu chở dầu loại Aframax, có trọng tải lên tới 120.000 tấn. Trước đó vào tháng 5, Unipec đã mua 15 lô dầu từ Kozmino, gấp 3 lần so với tháng 4 trước đó. Theo Reuter dẫn nguồn tin từ giới thị trường cho biết, về lợi nhuận, Unipec vượt trội hơn tất cả các công ty Trung Quốc khác và đứng ở đỉnh của chuỗi cung ứng vì công ty này có các thỏa thuận trực tiếp với những nhà xuất khẩu dầu lớn nhất của Nga. Điều này cho phép họ nhận được chiết khấu cao.

Unipec là đơn vị thành viên của tập đoàn dầu khí Sinopec. Trong cả hai tháng 5 và 6, các nhà máy lọc dầu của Sinopec đã nhận được khoảng 20 triệu thùng dầu thô loại ESPO của Nga. Đối với một số lô dầu được giao theo điều kiện FOB Kozmino, mức chiết khấu đạt kỷ lục 20 USD/thùng so với dầu tiêu chuẩn Dubai (Trung Đông). Dầu thô ESPO có đặc tính nhẹ và chứa ít lưu huỳnh. Việc chế biến dầu thô này giúp Sinopec tăng đáng kể sản lượng tinh chế nhiên liệu động cơ, nhất là khi Trung Quốc dỡ bỏ một số hạn chế Covid-19 từ cuối tháng 5.

Sự quan tâm đến dầu ESPO cũng đang tăng lên từ các nhà máy lọc dầu ngoài quốc doanh của Trung Quốc đặt tại tỉnh Sơn Đông.

Vào ngày 20/07 tới đây, Tổng cục hải quan Trung Quốc sẽ công bố dữ liệu chính thức về tình hình nhập khẩu hàng hóa vào nước này. Nhập khẩu dầu của Trung Quốc trong tháng 6/2022 dự kiến sẽ giảm 8% so với cùng kỳ năm ngoái do các hạn chế liên quan đến Covid-19. Trung Quốc cũng được cung cấp dầu thô Urals của Nga do nhiều khách hàng châu Âu từ chối mua dầu thô Nga. Theo đánh giá của Vortex và Kpler, sản lượng dầu Urals xuất sang Trung Quốc đạt 250.000 thùng/ngày.

Tận dụng các đợt chiết khấu giá đối với dầu Urals (có thời điểm lên tới 40 USD/thùng), các nhà máy lọc dầu ngoài quốc doanh của Trung Quốc có thể mua dầu Urals ở Biển Đen và tại các cảng trên Biển Baltic. Tuy nhiên, những người mua chính dầu Urals trong tháng 6 lại là các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ. Theo các chuyên gia phương Tây, xuất khẩu dầu thô Nga sang Ấn Độ đã đạt 1 triệu thùng/ngày trong tháng 6 vừa qua.

Do sản lượng dầu nhập khẩu từ Nga gia tăng, Trung Quốc đã giảm nhập khẩu dầu thô từ Trung Đông. Theo số liệu của Vortex, lượng dầu thô mà KSA và Iraq cung cấp cho Trung Quốc trong tháng 6 đã giảm lần lượt 40% và 30% so với tháng 5 trước đó. Nhập khẩu dầu thô từ Angola cũng giảm khoảng 25%. Trong những năm qua, Angola thường xuyên đứng thứ ba trong số các nhà cung cấp dầu cho Trung Quốc. Một số người chơi trên thị trường dự báo, nhu cầu đối với dầu thô Nga từ các nhà máy lọc dầu của Trung Quốc sẽ giảm trong nửa cuối năm do giá cước vận chuyển đối với tàu chở dầu cỡ lớn cao hơn và sự cạnh tranh ngày càng tăng từ những khách hàng Ấn Độ. Nếu những dự đoán này trở thành hiện thực, KSA sẽ giành lại vị trí số 1 về xuất khẩu dầu thô sang nền kinh tế số 2 thế giới.

Infographic




 

Chia sẻ: