Thách thức và triển vọng thị trường gas Việt Nam
Ngày 14/11, tại Hà Nội, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh tổ chức Hội thảo “Thách thức và Triển vọng thị trường gas”. Tổng Công ty Khí Việt Nam (PVGAS) đồng hành cùng chương trình.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Tổng biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo PGS.TS Lê Xuân Đình cho hay, qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, đến nay ngành công nghiệp khí Việt Nam đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành Dầu khí nói riêng.


Tổng biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo Lê Xuân Đình phát biểu tại hội thảo

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Công Thương về tình hình ngành công nghiệp khai khoáng trong nửa đầu năm 2018, khai thác khí đốt thiên nhiên ước đạt 5,3 tỷ m3, tăng 1%; khí hóa lỏng ước đạt 437,6 nghìn tấn, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2017. Điều đó cho thấy bức tranh toàn cảnh về ngành công nghiệp khai khoáng nói chung, ngành công nghiệp khí nói riêng đang ngày càng được phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu, không xảy ra thiếu hụt nguồn cung.

Tuy nhiên trong năm nay, các doanh nghiệp kinh doanh khí hóa lỏng đang cạnh tranh quyết liệt nhằm giành thị trường bằng nhiều thủ đoạn khác nhau rất khó kiểm soát, dẫn đến có những thời điểm thị trường không ổn định, hiệu ứng dư luận không tốt, cơ quan quản lý nhà nước bị động trong quản lý.

Toàn cảnh hội thảo

Nhằm mang đến diễn đàn trao đổi thẳng thắn, đa chiều về thách thức và triển vọng thị trường gas, làm rõ tầm quan trọng của ngành công nghiệp khí đối với phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Hội thảo “Thách thức và Triển vọng thị trường gas” là nơi các chuyên gia về kinh tế chia sẻ về những khó khăn, thách thức của thị trường gas, đồng thời là cầu nối giúp các doanh nghiệp chia sẻ những rào cản vướng mắc trong sản xuất kinh doanh.


Phó Trưởng phòng Phân phối hàng hóa và Dịch vụ thương mại, Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) Đỗ Trọng Hiếu phát biểu tại hội thảo

Tại hội thảo, Phó Trưởng phòng Phân phối hàng hóa và Dịch vụ thương mại, Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) Đỗ Trọng Hiếu cho biết về thực trạng thị trường kinh doanh LNG tại Việt Nam đó là: Tốc độ tăng trưởng cao, trong 5 năm gần đây tăng trên 12%; Cơ cấu tiêu thụ LPG tại Việt Nam: Cơ sở công nghiệp và giao thông vận tải tiêu thụ khoảng 35%, cơ sở thương mại, dịch vụ và hộ tiêu thụ dân dụng tiêu thụ khoảng 65%.

Về sản xuất LPG trong nước: Cung cấp từ Nhà máy GPP Dinh Cố và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất với sản lượng khoảng 750.000 tấn/năm, chiếm khoảng 45% nhu cầu LPG của Việt Nam. Về nguồn LPG nhập khẩu: Nhập khẩu từ thị trường các nước như Trung Quốc, Quata, Arập Xêút và Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất, chiếm khoảng 55% nhu cầu LPG của Việt Nam.

Về hệ thống cơ sở vật chất kinh doanh LPG: Với 1 hệ thống kho LPG lạnh thuộc PVGAS, dung tích chứa 60.000 tấn tại Vũng Tàu; trên 50 kho chứa LPG có tổng dung tích khoảng trên 220 nghìn m3 (khoảng 110 nghìn tấn) của các công ty kinh doanh LPG với công suất trung bình kho chứa từ khoảng 1.000 - 4.000 tấn; sức chứa phân theo vùng miền: Miền Bắc chiếm 13,8%, miền Trung chiếm 6,8% và miền Nam chiếm 79,4%. Với hơn 35 cầu cảng được sử dụng để nhập LPG, chủ yếu là cầu cảng nhỏ.

Về hệ thống trạm nạp LPG vào chai ở Việt Nam với gần 200 trạm nạp LPG đủ điều kiện nạp LPG được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện; 72 trạm chiết nạp hoạt động độc lập được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện.

Cũng tại hội thảo, Phụ trách Ban Thị trường PVGAS Nguyễn Quyết Thắng chia sẻ về tổng quan thị trường LNG thế giới; tính cấp thiết, các cơ chế pháp lý cho việc phát triển cơ sở hạ tầng nhập khẩu LNG của Việt Nam và các giải pháp phát triển hạ tầng để nhập khẩu LNG cho sản xuất điện ở Việt Nam.


Ông Nguyễn Quyết Thắng - Phụ trách Ban Thị trường PVGAS chia sẻ tại hội thảo

Phụ trách Ban Thị trường PVGAS Nguyễn Quyết Thắng cho hay, sau gần 20 năm khai thác các nguồn khí trong nước sẽ suy giảm dần trong thời gian tới. Trong khi nguồn khí bổ sung từ các mỏ mới tại các khu vực có nguồn khí suy giảm không nhiều. Để đảm bảo nguồn cung khí cho các nhà máy điện, đạm và hộ tiêu thụ công nghiệp..., ngoài việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác các nguồn khí trong nước, việc cấp thiết bổ sung nguồn khí nhập khẩu bằng đường ống và nhập khẩu LNG là những giải pháp cấp bách. Do vậy, việc cần thiết phải phát triển hạ tầng để nhập khẩu LNG.

Tại Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến 2035, phần mục tiêu phát triển nói rõ: Về nhập khẩu, phân phối LNG: Nghiên cứu, tìm kiếm thị trường và đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kho cảng để sẵn sàng tiếp nhận, nhập khẩu LNG với mục tiêu cho từng giai đoạn như sau: giai đoạn 2021-2025 đạt 1 - 4 tỷ m3/năm; giai đoạn 2026-2035 đạt 6 - 10 tỷ m3/năm; Tiếp tục phát triển thị trường điện là thị trường trọng tâm tiêu thụ khí (bao gồm LNG nhập khẩu) với tỷ trọng 70 - 80% tổng sản lượng khí, đáp ứng nguồn nhiên liệu khí đầu vào để sản xuất điện.

Về định hướng phát triển: Tại khu vực Bắc Bộ, từng bước nghiên cứu, triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng nhập khẩu LNG để duy trì khả năng cung cấp khí cho các hộ công nghiệp khi nguồn khí khu vực Bắc Bộ suy giảm, phát triển các nhà máy điện sử dụng LNG theo quy hoạch điện lực quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Khu vực Trung Bộ, từng bước nghiên cứu, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng nhập khẩu, phân phối LNG khi nguồn khí trong khu vực suy giảm và trong trường hợp xuất hiện thêm các hộ tiêu thụ mới.

Khu vực Đông Nam Bộ, triển khai xây dựng hệ thống kho, cảng nhập khẩu LNG để bổ sung nguồn khí trong nước suy giảm và cung cấp cho các nhà máy điện theo quy hoạch điện lực quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Khu vực Tây Nam Bộ: Xây dựng cơ sở hạ tầng nhập khẩu LNG để duy trì khả năng cung cấp cho các hộ tiêu thụ, phát triển các nhà máy điện sử dụng LNG mới.

Tại Quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét đến năm 2030 yêu cầu: Phát triển các nhà máy nhiệt điện với tỷ lệ thích hợp, phù hợp với khả năng cung cấp và phân bố các nguồn nhiên liệu. Nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG): Đến năm 2020, tổng công suất 9.000 MW, sản xuất 44 tỷ Kwh điện, chiếm 16,6% sản lượng điện sản xuất; năm 2025 tổng công suất khoảng 15.000 MW, sản xuất 76 tỷ Kwh điện, chiếm 19% sản lượng điện sản xuất; năm 2030 tổng công suất khoảng 19.000 MW, sản xuất khoảng 96 tỷ Kwh điện, chiếm 16,8% sản lượng điện sản xuất.

Phát triển hệ thống kho, cảng nhập khẩu LNG tại Sơn Mỹ (Bình Thuận) để bổ sung khí cho trung tâm điện lực Phú Mỹ, Nhơn Trạch khi nguồn khí thiên nhiên tại khu vực Miền Đông suy giảm.

Bện cạnh đó, Phụ trách Ban Thị trường PVGAS Nguyễn Quyết Thắng cũng đưa ra các giải pháp phát triển hạ tầng để nhập khẩu LNG cho sản xuất điện ở Việt Nam đó là: Giải pháp về tổ chức quản lý (cơ chế chính sách, mô hình); giải pháp về đầu tư, tài chính và thu xếp vốn, thị trường, khoa học công nghệ, phát triển nhân lực; giải pháp về an toàn, môi trường và phát triển bền vững; và giải pháp về an ninh quốc phòng.

Nguyễn Hoan


Bình luận
Họ tên
Email
Mã xác nhận
 
 

Tin khác

Cơ quan chủ quản: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Trưởng ban biên tập: Nguyễn Quốc Thập, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Số giấy phép: 10/GP-TTĐT, cấp ngày: 25/01/2013. Website: www.pvn.vn
Địa chỉ: Số 18 Láng Hạ, Hà Nội. Tel: (84-4) 38252526. Fax (84-4) 38265942
Liên hệ     |    Đánh giá     |    Sitemap     |    Điều khoản sử dụng
Phát triển bởi www.paic.pvn.vn