Dự án NMNĐ Thái Bình 2 - Từ góc nhìn lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (Tiếp theo và hết)
Có thể nói, nắm rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX) sẽ giúp chúng ta soi rọi vào thực tiễn sản xuất kinh doanh, vào triển khai các dự án đầu tư hiệu quả hơn cho tất cả các bên liên quan tham gia dự án.

Kỳ I: Khó khăn nào phải vượt qua?

Kỳ 2: Giải pháp gốc cho dự án

Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ thống nhất, mang tính khách quan, biện chứng. Trong triển khai dự án, điều này phụ thuộc vào các hệ thống pháp lý, mô hình triển khai, hình thức và nội dung hợp đồng cần phải phù hợp với quy mô, tính chất dự án và năng lực triển khai công việc của các bên liên quan. Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX phù hợp sẽ là đòn bẩy tạo điều kiện cho thành công của dự án; ngược lại, sẽ tác động tiêu cực, làm ảnh hưởng xấu đến quá trình triển khai và hiệu quả của dự án, của các bên tham gia.


Kiểm tra turbine tổ máy số 1 NMNĐ Thái Bình 2 để chuẩn bị chạy thử

Những mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX ở dự án NMNĐ Thái Bình 2 không được giải quyết kịp thời đã ảnh hưởng không tốt đến năng suất, chất lượng, hiệu quả thực hiện dự án. Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển LLSX, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động. Muốn thiết lập một QHSX mới phải căn cứ từ trình độ phát triển của LLSX, không phải là kết quả của mệnh lệnh hành chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ tính tất yếu kinh tế, yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế, chống tùy tiện, chủ quan, duy ý chí.

Về ý nghĩa, có thể nói, nắm rõ mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX sẽ giúp chúng ta soi rọi vào thực tiễn sản xuất kinh doanh, vào công tác triển khai các dự án đầu tư một cách năng suất hơn, hiệu quả hơn cho tất cả các bên liên quan tham gia dự án nói riêng và cho đất nước nói chung. Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX không chỉ nằm trong khuôn khổ ngôn từ triết học với vai trò to lớn trong sự phát triển xã hội mà còn biểu hiện sinh động trong đời sống kinh tế, trong các dự án đầu tư.


Kiểm tra turbine tổ máy số 1

Khi QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội nói chung cũng như việc triển khai các dự án nói riêng. Xét trên góc độ này, để tiếp tục thực hiện, hoàn thành dự án theo chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, cần thiết phải nhận diện các khó khăn, vướng mắc, giải quyết những bất cập chính như sau:

Thứ nhất là về nguồn nhân lực. Cần bổ sung kịp thời cán bộ quản lý, điều hành có kinh nghiệm, giỏi chuyên môn; xây dựng lực lượng nhân sự vừa đáp ứng yêu cầu cho cả giai đoạn thi công, vừa đáp ứng yêu cầu chuẩn bị sản xuất, tiếp quản vận hành, đặc biệt là nhân lực để phục vụ công tác chạy thử.

Thứ hai là cơ chế triển khai liên quan đến cơ sở pháp lý. Có các hướng dẫn đồng bộ liên quan đến triển khai dự án đầu tư; tháo gỡ các khó khăn; thống nhất cách hiểu, cách áp dụng đối với cơ chế đặc thù theo Quyết định 2414/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho trường hợp cụ thể của Dự án NMNĐ Thái Bình 2. Đặc biệt, cần có cơ chế để phòng ngừa các rủi ro, bảo vệ người lao động về pháp lý.

Thứ ba là nguồn lực vật chất, phương tiện thực hiện; xử lý các ách tắc về nguồn lực, bố trí vốn, khơi thông dòng tiền. Tiếp tục tối ưu các giải pháp, phù hợp với trình độ tay nghề, đáp ứng mức giới hạn chi phí trong tổng mức đầu tư điều chỉnh đã được phê duyệt để thống nhất triển khai. Đánh giá tính chất, phân loại mức độ, xem xét khả năng đáp ứng của thị trường cung cấp vật tư, nguyên nhiên liệu, lao động... để có giải pháp cụ thể cho từng công việc, từng hạng mục nhằm tích lũy khối lượng, hoàn thành dự án.

Thứ tư là công tác tổ chức thực hiện. Chủ đầu tư, tổng thầu và các đơn vị tham gia cần rà soát các quy định quản lý, điều hành theo hướng chặt chẽ về pháp lý, rõ ràng về trách nhiệm, dễ dàng trong áp dụng và thuận lợi cho phối hợp; giảm bớt các khâu trung gian để tăng khả năng hoàn thành, tính hiệu quả của dự án; đồng thời bảo đảm đúng quy định về đầu tư xây dựng.

Dự án NMNĐ Thái Bình 2 có công suất 2 x 600 MW (2 tổ máy), tổng mức đầu tư 41.799 tỉ đồng.Đến nay, tiến độ tổng thể đạt 85,07%, trong đó thiết kế đạt 99,63%; ký các hợp đồng mua sắm đạt 99,71%; gia công, chế tạo và vận chuyển đạt 93,8%; thi công đạt 82,801%, chạy thử đạt 11,26%.




Bình luận
Họ tên
Email
Mã xác nhận
 
 

Tin khác

Cơ quan chủ quản: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Trưởng ban biên tập: Đỗ Chí Thanh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. .
Số giấy phép: 176/GP-TTĐT, cấp ngày: 11/09/2019. Website: www.pvn.vn
Địa chỉ: Số 18 Láng Hạ, Hà Nội. Tel: (84-4) 38252526. Fax (84-4) 38265942
Liên hệ     |    Đánh giá     |    Sitemap     |    Điều khoản sử dụng
Phát triển bởi www.paic.pvn.vn