Thái Bình - “cái nôi” của ngành Dầu khí
Sự phát triển của mỗi ngành công nghiệp đều có những mốc son đáng nhớ. Với ngành Dầu khí Việt Nam, đó là ngày 23-7-1959 khi ước mong của Bác Hồ về một ngành Dầu khí Việt Nam vững mạnh được nảy sinh từ một nơi rất xa - Baku, Cộng hòa Azerbaijan. Và, ngày 18-3-1975, tại khoan trường 61 thuộc xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, những “người đi tìm lửa” đã thấy dòng khí phun lên. Đó là một ngày trọng đại với ngành Dầu khí Việt Nam.

Kỳ I 

Dòng khí đầu tiên phun lên từ khoan trường 61 (còn gọi là “Giếng tổ”) là kết quả của rất nhiều năm tháng kiếm tìm dầu khí, là kết quả của cuộc trường chinh “đi tìm lửa” trong lòng đất. Kết quả này chứng minh tầm nhìn xa trông rộng và ước nguyện của Bác Hồ về ngành Dầu khí Việt Nam từ 16 năm trước khi Người tới thăm khu công nghiệp dầu khí Baku.

Bác Hồ - Người đặt nền móng cho ngành Dầu khí Việt Nam

Mùa Đông năm 1975 rất lạnh. Cả miền Bắc chìm trong những cơn gió mùa Đông Bắc và mưa phùn. Trên nền trời xám xịt ở xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình hiện lên sừng sững một giàn khoan có tháp khoan cao 50m. Trong vùng không có một công trình nào cao hơn, đứng phía bên kia con sông Trà Lý vẫn còn nhìn thấy tháp khoan này. Trong trí nhớ của những người dân vùng Tiền Hải, lá cờ đỏ sao vàng no gió kiêu hãnh bay phần phật trên đỉnh tháp khoan là một phần ký ức không quên. Những con người trên khoan trường ấy làm việc miệt mài trong mưa gió rét buốt, trong tin thắng trận của Chiến dịch Hồ Chí Minh bay về dồn dập từ miền Nam. 


Thái Bình - “cái nôi” của ngành Dầu khíBác Hồ ở Khu công nghiệp dầu khí Baku (ảnh tư liệu)

Đó là khung cảnh tại xã Đông Cơ những ngày tháng 3-1975 theo trí nhớ của những người tại khoan trường 61. Ngày 18-3-1975, tại khoan trường này, chúng ta tìm thấy dòng khí phun lên. Đó là một ngày trọng đại với ngành Dầu khí Việt Nam. Ở thời điểm hiện nay, chuyện phát hiện dầu khí là rất bình thường. Nhưng thời điểm năm 1975, đó là một sự kiện trọng đại của đất nước, là kết quả của rất nhiều năm tháng kiếm tìm dầu khí, là kết quả của cuộc trường chinh đi tìm lửa trong lòng đất. Kết quả này chứng minh tầm nhìn xa trông rộng và ước mong của Bác Hồ về ngành Dầu khí nước nhà từ 16 năm trước. Giấc mơ dầu khí của Việt Nam bắt đầu từ Bác Hồ, từ Baku, Cộng hòa Azerbaijan, vào năm 1959.

Ngược thời gian, năm 1959, trong chuyến thăm Cộng hòa Azerbaijan, khi đến thăm Khu công nghiệp Dầu khí Baku vào ngày 23-7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với các lãnh đạo và kỹ sư dầu khí của nước bạn rằng, Việt Nam có biển, chắc chắn sẽ có dầu. Sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi, Liên Xô nói chung, Azerbaijan nói riêng sẽ giúp Việt Nam xây dựng những khu công nghiệp dầu khí mạnh như Baku. Đó là câu nói thể hiện mong muốn và quyết tâm xây dựng một ngành Dầu khí vững mạnh của Bác Hồ. Có thể nói, Bác Hồ là người đặt nền móng cho ngành Dầu khí Việt Nam.

Trước đó, từ những năm 1956 đến năm 1959, Chính phủ đã giao cho Bộ Giáo dục gửi một số học sinh đi học về địa chất, dầu khí tại Liên Xô và Rumani. Những người học dầu khí được đào tạo tại Trường Đại học Dầu khí Mátxcơva (Liên Xô) và Trường Đại học Dầu khí và Địa chất Bucharest (Rumani). Những người được học về địa chất và địa vật lý chung được đào tạo tại Trường Đại học Địa chất thăm dò Mátxcơva. Bên cạnh đó có những người học ngành địa chất trong nước. Sau khi tốt nghiệp, họ đã tham gia ngay vào công tác địa chất, thăm dò dầu khí ở miền Bắc Việt Nam. Đây là lớp cán bộ đầu tiên của ngành Dầu khí Việt Nam.

Những bước “tìm lửa” đầu tiên

Trước khi các nguồn năng lượng thay thế như điện gió, điện mặt trời phát triển, dầu mỏ là một trong những nguyên liệu quan trọng nhất của đời sống hiện đại. Từ dầu mỏ tạo ra điện, tạo ra năng lượng cho các phương tiện giao thông vận tải, tạo ra chất dẻo và nhiều sản phẩm khác. 

Vì thế, Bác Hồ và Chính phủ quyết tâm tìm được dầu, quyết tâm xây dựng cho đất nước một ngành Dầu khí vững mạnh. Những tổ chức dầu khí đầu tiên của đất nước được thành lập nhằm hiện thực hóa ước mong đó của Bác Hồ và Chính phủ. 

Từ những cán bộ đầu tiên của ngành Dầu khí được đào tạo trong nước và các nước Đông Âu, ngày 27-11-1961, Tổng cục Địa chất đã thành lập Đoàn Thăm dò dầu lửa 36 (được gọi tắt là Đoàn 36 hoặc Đoàn Địa chất 36). Sau đó, ngày 27-11 được lấy là Ngày Truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam. Đây là tổ chức đầu tiên của ngành Dầu khí Việt Nam, có nhiệm vụ tiến hành tìm kiếm, thăm dò dầu và khí đốt trên phạm vi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Khi thành lập, Đoàn 36 đặt trụ sở tại Hà Nội, rồi liên tục di chuyển vì chiến tranh. Đến năm 1966, Đoàn 36 sơ tán về thôn Bình Kiều, xã Ông Đình, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Thời điểm đó, Đoàn 36 có 211 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 123 công nhân, 22 kỹ thuật viên, kỹ sư, 36 người làm nhiệm vụ hành chính và 15 kỹ sư Liên Xô.


Trạm xử lý khí đầu tiên và “Giếng tổ” tại xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Trong trí nhớ của ông Phan Minh Bích, nguyên Vụ trưởng Vụ Kỹ thuật thuộc Tổng cục Dầu khí, những năm đầu mới thành lập, dù được tạo nhiều điều kiện thuận lợi nhưng việc tìm kiếm dầu khí của Đoàn 36 hết sức khó khăn. Năm 1963, ông Bích giữ chức vụ Đoàn phó Đoàn 36. Ông nhớ thời điểm đó, việc tính toán số liệu của cả Đoàn 36 chỉ dựa vào chiếc máy tính Nisa của Liên Xô. Thô sơ như vậy, nên anh em phải làm ngày làm đêm. Vượt qua tất cả, những bước đầu tiên của cuộc trường chinh tìm lửa trong lòng đất được tiến hành.

Trong hồi ký của TS Trương Minh, nguyên Viện phó Viện Dầu khí, có đoạn viết: “Ngày 25-6-1962, Hưng Yên lồng lộng trời xanh, mùa lúa nước dậy thì mơn man hương đồng gió nội. Hai ngọn cờ đỏ đuôi nheo phần phật gió chắn hai đầu đường đồng đầy cỏ may. Hai tốp bảo vệ đeo băng đỏ vừa nghiêm trang vừa tươi cười hướng dẫn bà con đi vòng lối khác. Một việc làm, hai tác dụng: Bảo vệ an toàn tính mạng và tránh gây nhiễu, ảnh hưởng độ chính xác của thí nghiệm.

Đúng giờ khai hỏa, 2,5kg thuốc nổ phát hỏa trên mặt đất. Một cột khói bốc cao. Đồng ruộng, nhà cửa rung lên như động đất, nước sóng sánh tràn bờ, tràn lên mặt đường. Trạm máy địa chấn SS-24P của Liên Xô và các máy thu sóng SP-1 đã ghi được các tín hiệu sóng phản xạ đầu tiên, 24 đường ghi trên giấy ảnh hiện lên các sóng địa chấn rõ nét tuyệt vời...”. 

Đây là phát nổ địa chấn đầu tiên tại Đồng bằng sông Hồng nhằm phục vụ việc thăm dò dầu khí. Thời điểm đó và cả những năm sau này, tiếng nổ địa chấn là tiếng nổ báo hiệu những niềm vui, những hy vọng về một ngành công nghiệp dầu khí lớn mạnh. Khác hẳn với tiếng nổ từ bom Mỹ vẫn dội xuống miền Bắc trong thời kỳ này.

Trong hồi ức của những “người đi tìm lửa” từ những ngày đầu tiên, anh em Đoàn 36 mặc lửa bom của máy bay Mỹ dội xuống đầu, vẫn chân trần vác ống chống, thi công các khoan trường ở khắp miền Bắc để thăm dò địa chất, đặt nền móng cho công cuộc tìm kiếm dầu khí. Những dấu chân trần của anh em Đoàn 36 in khắp ruộng đồng, bãi bồi... ở Đồng bằng sông Hồng. Đó là những bước chân đầu tiên của cuộc trường chinh đi tìm lửa, đi tìm nguồn “vàng đen” trong lòng đất để hiện thực hóa ước mong của Bác Hồ, ước mong về một ngành Dầu khí vững mạnh của đất nước.

Từ những cán bộ đầu tiên của ngành Dầu khí được đào tạo trong nước và các nước Đông Âu, ngày 27-11-1961, Tổng cục Địa chất đã thành lập Đoàn Thăm dò dầu lửa 36 (được gọi tắt là Đoàn 36 hoặc Đoàn Địa chất 36). Sau đó, ngày 27-11 được lấy là Ngày Truyền thống ngành Dầu khí Việt Nam. 

 Kỳ II

Trước yêu cầu mở rộng cả về quy mô và phạm vi hoạt động, Liên đoàn Địa chất số 36 được thành lập trên cơ sở Đoàn 36. 9 năm sau, Công ty Dầu khí I ra đời, tiếp tục sự nghiệp “tìm lửa” của 2 tổ chức tiền thân là Đoàn 36 và Liên đoàn Địa chất số 36. 

Những ngày đầu tiên gian khó

Trong quá trình từ năm 1961 đến năm 1969, Đoàn Thăm dò dầu lửa 36 (Đoàn 36) đã tiến hành thăm dò và khoan ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc Bộ. Cú mìn nổ thăm dò địa chất đầu tiên được tiến hành ở Hưng Yên ngày 25-6-1962. Sau đó, Đoàn 36 đã thành lập nhiều đội khoan rồi lớn dần thành các đoàn khoan. Đến năm 1969, Liên đoàn Địa chất số 36 (Liên đoàn 36) được thành lập với Quyết định số 203/CP của Hội đồng Chính phủ.


Ông Phạm Xuân Bái, người “viết sử” của Công ty Dầu khí I

Lãnh đạo Liên đoàn 36 thời điểm đó gồm ông Vũ Bột, Liên đoàn trưởng; ông Bùi Đức Thiệu và Phan Minh Bích là hai Liên đoàn phó. Khi thành lập, Liên đoàn 36 có 2.300 cán bộ, công nhân, kỹ sư, trong đó có khoảng 500 kỹ sư, công nhân lành nghề. Cơ cấu tổ chức của Liên đoàn 36 gồm nhiều đoàn chuyên môn như: Đoàn Địa chấn 36F, Đoàn Trọng lực 36T, Đoàn Điện 36Đ, Đoàn Địa chất 36C An Châu và các đoàn khoan: Khoan cấu tạo 36K và Khoan sâu 36S...

Liên đoàn 36 có nhiệm vụ thực hiện các phương pháp thăm dò địa vật lý, khoan cấu tạo, khoan thông số - tìm kiếm, thăm dò kèm theo các công tác khác như xây lắp, thử vỉa, thí nghiệm mẫu khoan, cơ khí vận tải... Từ những công tác chuyên môn ấy, những giếng khoan huyền thoại như giếng 100, giếng 61, giếng 63 được ra đời...

Đến ngày 28-8-1978, Tổng cục Dầu khí đã ra quyết định số 1014 đổi tên Liên đoàn Địa chất số 36 thành Công ty Dầu khí I. Lúc đó, công ty có 2.141 cán bộ, công nhân viên. Trong đó, lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ trung cấp, đại học, trên đại học là 369 người và trên 1.000 công nhân khoan, cơ khí, xây lắp lành nghề.

Nói về sự kiện này, ông Phạm Xuân Bái, nguyên Phó giám đốc phụ trách hành chính của Công ty Dầu khí I, nhận định: “Công ty Dầu khí I ra đời là sự kế tục sự nghiệp của các đơn vị tiền thân là Đoàn Địa chất 36 và Liên đoàn Địa chất 36”.


Cuốn sổ ghi chép lịch sử Công ty Dầu khí I của ông Phạm Xuân Bái

Ông Phạm Xuân Bái được ví như “người viết sử” của Công ty Dầu khí I, tất cả mọi sự kiện lớn, nhỏ của công ty và trước đó là Liên đoàn 36 đều được ông ghi chép tỉ mỉ trong một cuốn sổ bìa da, giấy ố vàng. Ông Bái kể, cuốn sổ này ông ghi chép các sự kiện tại Liên đoàn 36 và Công ty Dầu khí I từ năm 1973 đến năm 1986. Ông có chuyên môn là địa chất nhưng thường xuyên thu thập tài liệu và sau này làm việc như Chánh Văn phòng phụ trách lưu trữ cho công ty.

80 tuổi, nhưng trí nhớ của ông Bái vẫn rất tốt. Nói về quá trình hoạt động của Công ty Dầu khí I, ông phân tích: Hoạt động của công ty có thể chia làm 2 thời kỳ, thời kỳ từ năm 1978 đến năm 1986 và thời kỳ từ năm 1987 đến năm 1994. Trong 16 năm hoạt động và phát triển, công ty đã có những cống hiến đáng kể cho công cuộc tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở miền Bắc. Công ty đã 2 lần được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động vào năm 1978 và năm 1982. Đồng thời, công ty cũng là “cái nôi” của nhiều cán bộ sau này trở thành những lãnh đạo chủ chốt của ngành Dầu khí như các ông Trương Thiên, Trần Ngọc Cảnh, Nguyễn Ngọc Cư, Đỗ Văn Đạo, Phùng Đình Thực, Nguyễn Văn Minh...

Nhiều thành quả đáng ghi nhận

Chuyện trò với chúng tôi, nhấp ngụm trà đậm, ông Phạm Xuân Bái - “người viết sử” của Công ty Dầu khí I kể: Ngày 16-3-1975, chúng ta phát hiện dòng khí ở giếng khoan số 61 và sau đó khai thác khí ở giếng này. Những năm tiếp theo, từ năm 1978 đến năm 1980, đội ngũ kỹ sư và công nhân kỹ thuật Công ty Dầu khí I đã nghiên cứu và tận dụng thiết bị, vật tư trong quá trình tìm kiếm, thăm dò để thiết kế và xây dựng thành công trạm xử lý khí, thu gom khí. Đây là công trình mới mẻ lần đầu tiên được xây dựng ở nước ta. Công trình này đã được triển lãm kinh tế - kỹ thuật năm 1982 trao Huy chương Vàng.

Từ năm 1981 đến năm 1986, Công ty Dầu khí I đã khai thác được trên 120 triệu m3 khí, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế nói chung và nền công nghiệp của tỉnh Thái Bình nói riêng. Cùng với việc khai thác khí, Công ty Dầu khí I đã đẩy mạnh việc khoan thăm dò bổ sung để đánh giá trữ lượng mỏ khí Tiền Hải C. Trong thời gian này, toàn công ty đã thi công gần 39.000m khoan. Kết quả của các giếng khoan đó đã giúp các nhà địa chất - địa vật lý hoàn thành báo cáo trữ lượng mỏ khí Tiền Hải C.

Trong giai đoạn này, ngoài việc thăm dò ở khu vực Tiền Hải, Thái Bình thì công ty còn tìm kiếm ở các vùng phụ cận như: Tỉnh Hưng Yên, Quỳnh Phụ - Đông Hưng (tỉnh Thái Bình) hay Giao Thủy (tỉnh Nam Định) để khảo sát khả năng dầu khí ở các tỉnh này.

“Đến cuối năm 1985, công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở vùng trũng sông Hồng bước vào giai đoạn kết thúc và Công ty Dầu khí I chỉ còn nhiệm vụ khai thác khí mỏ là chủ yếu, sau đó là nhiệm vụ thu gom, bảo dưỡng thiết bị máy móc đã qua sử dụng”, ông Phạm Xuân Bái nói.

Tổng kết lại, trong suốt quá trình 8 năm hoạt động đầu tiên của công ty, các kỹ sư, công nhân của Công ty Dầu khí I đã thi công trên 70 giếng khoan với tổng số chiều sâu 77.000m.

Bước sang năm 1986, chế độ bao cấp được xóa bỏ, Công ty Dầu khí I bước sang một giai đoạn mới với nhiệm vụ tìm kiếm phương thức kinh doanh mới để đáp ứng nhu cầu việc làm cũng như bảo đảm đời sống cho người lao động. Đến năm 1987, ngoài việc khai thác mỏ khí Tiền Hải, công ty đã triển khai nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác như tận dụng nguồn khí dư để mở cơ sở sản xuất sứ, thủy tinh, nung vôi, đốt gạch, tận dụng nguồn condensate để sản xuất chất dung môi và các loại hóa phẩm... Ngoài ra, công ty còn mở cơ sở sản xuất gia công cơ khí, mô tơ điện, săm lốp xe đạp; sử dụng nguồn nước khoáng để sản xuất nước giải khát.

“Tháng 5-1994, Công ty Dầu khí I được sáp nhập vào Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí và cũng từ ngày đó, Công ty Dầu khí I đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình sau 16 năm tồn tại. Đó là một quá trình đầy tự hào, nhưng cũng nhiều chông gai và thử thách”, ông Phạm Xuân Bái đúc kết lại quá trình hoạt động của Công ty Dầu khí I.

 Ngày 28-8-1978, Tổng cục Dầu khí quyết định đổi tên Liên đoàn Địa chất số 36 thành Công ty Dầu khí I. Lúc đó, công ty có 2.141 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 369 cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ trung cấp, đại học, trên đại học và trên 1.000 công nhân khoan, cơ khí, xây lắp lành nghề. Trong 8 năm hoạt động đầu tiên, công ty đã thi công trên 70 giếng khoang với tổng số chiều sâu 77.000m.

Kỳ III 

Làng Khuốc, xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, nổi tiếng với nghệ thuật chèo. Thập niên 70 của thế kỷ trước, có 3 thứ âm thanh mà bây giờ gợi nhắc lại, những người già ở làng Khuốc đều nhớ: Tiếng hát chèo, tiếng máy bay Mỹ và tiếng hoạt động của giàn khoan. Giàn khoan đó thuộc giếng khoan 100 (GK 100), là giếng khoan sâu đầu tiên của ngành Dầu khí Việt Nam.

Tháp khoan khổng lồ trên cánh đồng làng

Bà Hoa, con dâu làng Khuốc kể: Năm 1970, khi ấy bà 19 tuổi, đám rước dâu của bà đi qua cánh đồng làng Khuốc mùa lúa chín, phía xa là một tháp khoan cao sừng sững trên nền trời. Trong vùng hồi đó không có công trình nào cao hơn thế. Trong nhiều năm sau đó, tháp khoan này là mốc để những người làng Khuốc ở xa nhìn để xác định hướng đi về làng mình.


Ông Nguyễn Quyền, nguyên Phó giám đốc Công ty Dầu khí I

Trong trí nhớ của những người già ở làng Khuốc, tháng 2-1969, những vật liệu, thiết bị đầu tiên đã được chuyển về để xây dựng khoan trường GK 100. Đến tháng 9-1970, khoan trường và giàn khoan được lắp đặt xong, những mét khoan đầu tiên xuống cánh đồng làng Khuốc được tiến hành. 1 năm 7 tháng chuẩn bị, nghe thì dễ nhưng để thực hiện khoan trường khổng lồ ở thời đó thực sự là kỳ tích.

Để vận chuyển các thiết bị cho một giàn khoan cả vài nghìn tấn, phải khảo sát và đưa ra mọi phương án vận chuyển, kể cả bằng đường sông hoặc gia cố, mở rộng đường. Chỉ riêng đoạn đường từ phố Tăng về đến làng Khuốc dài khoảng 1km, việc gia cố, mở rộng đã mất 4 tháng. Các thiết bị để lắp đặt cho giàn khoan này đều là siêu trường, siêu trọng vào thời điểm đó. Máy khoan 4LD-150D do Rumani sản xuất, khoan được 3.200m. Toàn bộ thiết bị của bộ máy khoan nặng 1.000 tấn, riêng tháp khoan được chia thành 3 đoạn, có đoạn dài 18m. Còn cần khoan, ống cống và các loại vật liệu khác nặng khoảng 2.000 tấn.

Ông Nguyễn Quyền thời điểm đó làm ở Đoàn khoan 36S, thuộc Liên đoàn 36 (sau này ông Quyền trở thành Phó giám đốc Công ty Dầu khí I). Ông Quyền kể, toàn bộ khoan trường rộng khoảng 1ha, gần như ôm trọn cả cánh đồng. Vị trí khoan nằm giữa cánh đồng nên nền giếng khoan yếu, phải gia cố bằng việc đóng 16 cọc thép có đường kính 299mm xuống sâu khoảng 40m.

Đến tháng 6-1970, khi các công tác chuẩn bị, vận chuyển thiết bị xong, chuyên gia Liên Xô sang giúp đỡ việc xây lắp giàn khoan. Việc lắp giàn khoan đến tháng 9-1970 thì hoàn tất. Tháp khoan cao 53m, sừng sững giữa trời. Tháp khoan ấy một thời là biểu tượng của vùng, đi vào từng câu chuyện bên các cánh đồng, đi vào từng bữa cơm của người dân làng Khuốc. Nói thì vô lý khi một vùng quê chỉ có chèo và lúa, nhưng trong vài năm lại có tháp khoan làm biểu tượng của vùng. Nhưng đó là sự thật.

Ngày nay, chúng tôi về lại làng Khuốc, chỉ còn thấy rải rác vài khối bê tông xám xịt của nền khoan cũ nằm giữa màu xanh mướt của cánh đồng lúa đang thì con gái. Phía xa là 2 bể dung dịch khoan, giờ mọc kín lục bình. Trên gò đất lồi ra phía trái nền khoan cũ, một cây đa tỏa bóng trùm lên những khối bê tông cũ. Nhìn những hình ảnh bình yên này, ít ai ngờ ở đây từng là một khoan trường với những cuộc vận chuyển thiết bị lớn nhất Việt Nam thời đó. Tất cả để phục vụ cho một mục tiêu duy nhất: Đi tìm lửa trong lòng đất, đi tìm nguồn vàng đen cho đất nước.

Kỷ lục khoan sâu đầu tiên

Tại sao giếng khoan có số hiệu 100 lại là giếng khoan sâu đầu tiên của Việt Nam? Theo ông Nguyễn Xuân Nhự (Chủ tịch Chi hội Dầu khí Thái Bình, nguyên Phó vụ trưởng Vụ Dầu khí - Văn phòng Chính phủ), các giếng khoan ở Đồng bằng sông Hồng được đánh số theo quy định về độ sâu. Những giếng sâu dưới 1.200m thì mang số hiệu dưới 50; mang số hiệu từ 50-59 là những giếng 1.700m; mang số hiệu từ 60-99 là những giếng 2.400m. Và mang số hiệu 100 trở lên là những giếng khoan sâu hơn 3.000m.


Vị trí của GK 100 trên cánh đồng làng Khuốc

Các hoạt động của GK 100 được tiến hành trong 6 năm, tính cả thời gian xây dựng. Trong suốt khoảng thời gian đó, rất nhiều mồ hôi, sức lực, thậm chí là máu đã đổ tại khoan trường này. Ngày 23-9-1970, những mét khoan đầu tiên tại khoan trường 100 được tiến hành. 1 năm lẻ 5 ngày sau thì đạt chiều sâu 3.000m; thêm 70 ngày nữa thì đạt chiều sâu 3.303m. Đó là kỷ lục khoan sâu ở Việt Nam thời điểm đó. Điều đáng nói, bộ máy khoan 4LD-150D chỉ khoan sâu 3.200m, nhưng do yêu cầu về địa chất nên đã khoan thêm 103m.

Thời điểm đó, phụ trách khoan tại GK 100 là kỹ sư Đặng Của, Đoàn phó Đoàn khoan 36S. Đội khoan sâu do kỹ sư Phan Văn Ngân phụ trách, gồm 4 kíp khoan và 1 tổ diesel. 3 kíp khoan làm việc suốt ngày đêm, còn 1 kíp nghỉ.

Giếng khoan sâu này lần đầu tên phát hiện tầng trầm tích mới, được chuyên gia Liên Xô và kỹ sư Nguyễn Ngọc Cư đặt tên là tầng Phong Châu. Ngoài ra, trong quá trình khoan đã phát hiện khí cháy, nhưng không lớn; có những màn chắn là đất sét, sét kết và cát kết. Đây là những cơ sở quan trọng để khẳng định khả năng có khí, có dầu ở Đồng bằng sông Hồng.

Trong quá trình khoan, GK 100 đã từng phải di dời vì đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, ném bom ác liệt. Trong hồi ức của mình, kỹ sư Đặng Của kể, Thái Bình tuy không phải vùng trọng điểm đánh phá, nhưng thường là nơi trút bom thừa trên đường trở về hạm đội 7 trên biển của Mỹ, nên bất kể ngày đêm đều có tiếng bom nổ trên các cánh đồng, khu dân cư. Có lần máy bay Mỹ ném bom chỉ cách giàn khoan 500m, nhưng may mắn không ảnh hưởng đến người và thiết bị. Đến thời điểm phải tháo dỡ giàn khoan, các chuyên gia Liên Xô và các công nhân, kỹ sư người Việt không kể ngày đêm tìm mọi cách tháo dỡ thật nhanh bộ máy khoan.

Công việc hoàn thành sớm hơn kế hoạch 10 ngày. Các bộ phận nhẹ thì đưa vào trong làng, còn các bộ phận nặng thì để dọc đường ở phố Tăng và ngụy trang kỹ càng. Các kỹ sư, công nhân làm việc tại khoan trường phải xây hầm trú ẩn, chấn chỉnh hệ thống báo động. Sau đó, Tổng cục Địa chất cho khoan trường 100 tiếp tục hoạt động, đến 17 giờ ngày 30-4-1975 thì kết thúc thử vỉa.

Nhận định về vai trò của GK 100, ông Nguyễn Quyền cho rằng, GK 100 là giếng khoan tham số, là giếng khoan sâu đầu tiên của Việt Nam, tuy không tìm được tầng sinh dầu nhưng đã để lại những kinh nghiệm quý về quá trình khoan, về việc lựa chọn vị trí khoan và khẳng định được khả năng có dầu, khí ở Đồng bằng sông Hồng.

Chung quan điểm với ông Nguyễn Quyền, ông Nguyễn Xuân Nhự - Chủ tịch Chi hội Dầu khí Thái Bình - cũng cho rằng, GK 100 khoan là để có mặt cắt địa chất tổng hợp bề mặt Đồng bằng sông Hồng nhằm định hướng thăm dò dầu khí.

Trong suốt 6 năm, những người công nhân, kỹ sư của Việt Nam với sự hướng dẫn của chuyên gia Liên Xô đã thực hiện những việc chưa từng có trong lịch sử non trẻ của ngành Dầu khí nói riêng cũng như ngành địa chất nói chung. Đó là vận chuyển những thiết bị siêu trường, siêu trọng, khoan 1 lỗ khoan hơn 3.000m... dưới muôn vàn áp lực, khó khăn. Đây là tiền đề để Liên đoàn 36 tiếp tục thực hiện những giếng khoan sâu khác.

Ngày 23-9-1970, những mét khoan đầu tiên tại khoan trường 100 được tiến hành. 1 năm lẻ 5 ngày sau thì đạt chiều sâu 3.000m; thêm 70 ngày nữa thì đạt chiều sâu 3.303m. Đó là kỷ lục khoan sâu ở Việt Nam thời điểm đó. Điều đáng nói, bộ máy khoan 4LD-150D chỉ khoan sâu 3.200m, nhưng do yêu cầu về địa chất nên đã khoan thêm 103m.

Kỳ IV 

Với những người trong ngành Dầu khí, khi nhắc đến giếng khoan 61 (GK 61) là nhắc đến một vùng đất thiêng trong tâm tưởng. Bởi lẽ, GK 61 là nơi đầu tiên phát hiện khí, là thành quả của những nỗ lực, khát vọng của rất nhiều người hàng chục năm theo các giàn khoan khắp Đồng bằng sông Hồng đi tìm dầu khí.

Âm thanh không bao giờ quên

Năm 1966, Thái Bình là tỉnh đầu tiên đạt năng suất 5 tấn thóc/ha. Liên tục những năm sau đó, Thái Bình dẫn đầu cả nước về khối lượng lương thực cung cấp cho tiền tuyến. Trong những năm từ 1973 đến 1975, những tấn lương thực từ Thái Bình lại càng hối hả ra tiền tuyến nhiều hơn. Nhưng Thái Bình không chỉ có những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay mà còn có những giàn khoan dầu khí mọc rải rác trên những cánh đồng.


Giếng khoan 61 được đặt tại xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Sau Tết Ất Mão 1975, loa phóng thanh ở các làng xã Thái Bình dồn dập tin thắng trận từ khắp các chiến trường gửi về. Và hòa trong niềm vui của dân tộc, ngành Dầu khí cũng có một tin vui, đó là tìm thấy khí ở GK 61 tại xã Đông Cơ. Đây là kết quả của 15 năm đằng đẵng miệt mài thăm dò dầu khí ở khắp các vùng thuộc Đồng bằng sông Hồng.

Khi nhắc lại sự kiện này, những người chứng kiến phút giây tìm thấy khí khi ấy, đến bây giờ vẫn chưa hết hân hoan. Trên nét mặt ông Nguyễn Xuân Nhự (Chủ tịch Chi hội Dầu khí Thái Bình, nguyên Phó vụ trưởng Vụ Dầu khí - Văn phòng Chính phủ) vẫn còn nguyên sự hào hứng, vui mừng. Ông Nhự kể, tới nay đã qua 44 năm, nhưng ông vẫn nhớ như in tiếng khí phun rít lên từng đợt như tiếng máy bay phản lực bay ở tầm thấp. Suốt bao năm, tiếng máy bay phản lực tượng trưng cho một cái gì đó kinh hoàng, là sự sợ hãi của biết bao người dân Thái Bình. Nhưng tiếng rít chói tai như tiếng phản lực lần này là những âm thanh rất đỗi vui mừng. Mọi người ôm lấy nhau, hò reo hân hoan bên tháp khoan cao 50m, sừng sững giữa trời. Ông Nhự bảo, đó là cảnh tượng đến hết cuộc đời này ông cũng không thể quên.

Ông Nhự là một người có trí nhớ kỳ lạ, dường như tất cả những công việc mà ông từng tham gia trong ngành Dầu khí ông đều có thể nhớ. Những dữ liệu trong đầu ông như được sắp xếp vào những ngăn ký ức rất khoa học, hỏi đến chuyện nào, ông đều kể hết sức tỉ mỉ, chi tiết và logic, kể cả các số liệu kỹ thuật hay thời gian. Bằng trí nhớ kỳ lạ ấy, ông kể cho chúng tôi nghe về sự kiện trọng đại của ngành Dầu khí. Bởi ở thời điểm ấy, ông trực tiếp có mặt tại GK 61, ngay thời điểm giếng phun khí.

Theo ông Nhự, sau hàng loạt giếng khoan không tìm thấy dầu và khí, các chuyên gia Liên Xô cùng các kỹ sư, công nhân Việt Nam đã xem xét lại phương pháp khoan. Vị trí của GK 61 được xác định đạt những tiêu chí về điều kiện địa chất thuận lợi cho việc hình thành tích tụ dầu khí trên cấu tạo Tiền Hải C. Cấu tạo này là cấu tạo nhỏ, khép kín nhưng lại là nơi nhô cao nhất nằm kề với hai trũng sâu có chiều dày trầm tích lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Niềm hạnh phúc vỡ òa

GK 61 được đặt ngay tại khu vực đỉnh của cấu tạo nằm tại xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Thiết kế giếng khoan tìm kiếm này sâu 2.400m. Khi khoan tới 1.250m, tiến hành đo địa vật lý giếng khoan. Phân tích tài liệu địa chất, địa vật lý giếng khoan cho thấy tại khoảng chiều sâu 1.146-1.152m là vỉa cát kết hạt trung bình, hạt có độ lựa chọn tốt, có những thông số địa chất, địa vật lý tốt chỉ ra vỉa có khả năng chứa dầu khí. Đến độ sâu này, mọi người quyết định thử vỉa.


Trạm xử lý khí đầu tiên của ngành Dầu khí

Ông Nhự kể, đến ngày 17-3-1975, rất nhiều người, trong đó có cả những lãnh đạo cao cấp của Chính phủ, chờ đợi kết quả thử vỉa. Thậm chí, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị đã về tận GK 61 để thăm anh em nhưng đi rất giản dị, lặng lẽ, không báo cho ai biết. Nhưng thật buồn là bộ thử hôm đó bị trục trặc, không đem lại kết quả. Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị ra về, không quên dặn anh em ở lại hoàn thành tốt công việc.

Ngày hôm sau, 18-3-1975, công việc lại được tiếp tục. 7 giờ, các cán bộ thả bộ thiết bị xuống giếng khoan. 9 giờ van thử được mở. Tất cả kỹ sư trèo lên sàn khoan để quan sát biểu hiện dòng sản phẩm. Hơn 1 tiếng sau vẫn không có biểu hiện. Cuộc thử kết thúc, bộ thiết bị được kéo lên. Khoảng 1-3 bộ cần khoan được kéo lên cũng không có dấu hiệu gì.

“Lúc đó chúng tôi đã nghĩ vỉa không có dầu khí, buồn vô cùng. Chỉ để lại một cán bộ để theo dõi, chúng tôi về nơi nghỉ của Tổ địa chất giếng khoan là nhà kho Hợp tác xã Đông Cơ, cách giếng khoan khoảng 700m để ăn trưa”, ông Nhự nhớ lại.

Kể đến đây, giọng ông Nhự thay đổi, hào hứng và vui tươi hơn hẳn. Ông bảo, vừa bê bát cơm lên chưa kịp ăn thì anh cán bộ ở lại trông giàn khoan đã đạp xe phi thẳng vào sân hợp tác xã, miệng lắp bắp: “Anh Cư...ư...ư, khí phun...un...un...” (thời điểm đó, Liên đoàn phó Liên đoàn 36 là ông Nguyễn Ngọc Cư - PV).

“Tất cả mọi người đều bỏ cơm lại, lên xe lao ra khoan trường. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là dòng nước phun phủ kín cả tháp khoan và sau đó là tiếng rít xé tai như âm thanh của máy bay Mỹ bay thấp qua đầu. Người tôi nổi da gà, tim đập dồn dập, đứng nhìn khí phun”, ông Nhự miêu tả lại cảm giác lúc đó.

Sau ít phút đắm chìm trong niềm vui sướng, tất cả mọi người trở lại việc của mình, nhanh chóng dập tắt, ngừng các nguồn nhiệt xung quanh theo chỉ đạo của chuyên gia Liên Xô. Những người khác thì thu dọn tài liệu, mẫu vật đem đi cất ở chỗ khác đề phòng sự cố cháy nổ. Rồi các van đối áp được đóng lại sau rất nhiều cố gắng. Sau đó, máy bơm làm việc trở lại, dung dịch được bơm vào lòng giếng và khí được khống chế hoàn toàn.

Ông Nhự lý giải: Hiện tượng khí phun trong quá trình kéo bộ dụng cụ thử giếng khoan chưa chống ống lên là sự cố ngoài ý muốn, là bài học cho công tác thử vỉa sau này. Sau đó, công tác khoan được tiếp tục tới chiều sâu 2.400m. Công tác chống ống, trám xi măng hoàn thành, tiếp theo là thực hiện công tác nghiên cứu vỉa. Ngay sau đó, phương án thăm dò (ngày nay gọi là thẩm lượng) cấu tạo Tiền Hải C được triển khai.

Những hoạt động thăm dò địa chấn dầu khí đầu tiên được bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ trước. 15 năm sau mới phát hiện được dòng khí đầu tiên tại Đồng bằng sông Hồng. Có những người bắt đầu theo các đoàn khoan từ khi mới hơn 20 tuổi, đến thời điểm đó đã gần 40 tuổi. Có thể nói, cả tuổi trẻ, thời thanh xuân của họ gắn bó với các giàn khoan, gắn bó với ước mơ tìm thấy dầu, khí. Vì vậy, tìm thấy khí, họ vui mừng vô cùng. Sự kiện tìm thấy khí ở GK 61 là một sự kiện trọng đại của đất nước, chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của Đảng, của Bác Hồ. Và cũng từ đó, vùng quê lúa Thái Bình đã đổi thay rất nhiều.

Vị trí của GK 61 được xác định đạt những tiêu chí về điều kiện địa chất thuận lợi cho việc hình thành tích tụ dầu khí trên cấu tạo Tiền Hải C. Cấu tạo này là cấu tạo nhỏ, khép kín nhưng lại là nơi nhô cao nhất nằm kề với hai trũng sâu có chiều dày trầm tích lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng.

Kỳ V 

Từ dòng khí ở mỏ khí Tiền Hải C, diện mạo của vùng Tiền Hải từng bước thay đổi, từ một vùng dùng điện tính bằng giờ đồng hồ trở thành một vùng có điện 20 ngày/tháng. Dòng khí mỏ là điều kiện cần để hình thành Khu công nghiệp (KCN) Tiền Hải. Trong suốt một thời gian dài những năm 80, 90 của thế kỷ trước, đây là KCN động lực của tỉnh Thái Bình.  

Động lực cho phát triển

Khi Liên đoàn 36 thực hiện việc khoan tìm kiếm dầu khí ở nhiều nơi trong tỉnh Thái Bình cũng là lúc nhiều người dân trong tỉnh bước vào làm việc trong Liên đoàn 36. Chính họ là người cảm nhận rõ nét nhất sự đổi thay của quê hương mình từ khi tìm ra nguồn khí.

Ông Vũ Ngọc Hoan là người Tiền Hải gốc. Nhiều đời gia đình ông Hoan sinh sống ở vùng đất quai đê lấn biển này. Sau đó, ông Hoan tham gia Liên đoàn 36, là công nhân lắp ráp các giàn khoan dầu khí ở Tiền Hải. Ông cho biết, trong đời công nhân của mình, ông lắp tất cả 10 giàn khoan. Từ giàn cao 40m đến giàn cao nhất là 61m, ông đều tham gia. “Cái giàn khoan cao 61m ấy là của giếng khoan 106, đứng khắp vùng Tiền Hải đều nhìn thấy”, ông Hoan nói.


Ông Đặng Trọng Thăng, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình (bên phải) trao đổi cùng Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam Ngô Thường San

Khi hỏi ông Hoan “cảm giác đầu tiên của người dân trong vùng khi biết tìm thấy khí ở Tiền Hải thế nào?”, ông bảo: “Tự hào, tự hào lắm và vui mừng vì biết có dầu, có khí thì cả vùng sẽ thay đổi. Nhưng cũng có người nửa đùa nửa thật làm người dân lo sợ, nói là hút dầu khí lên thì rỗng đất, sụt đất thì sao”...

Rồi ông kể về sự đổi thay của vùng đất Tiền Hải quê mình khi tìm thấy khí, đầu tiên là điện. Trước đây cũng có điện, nhưng nhà nào có đám cưới thì làm đơn xin xã đóng điện thì cả làng mới được dùng điện thoải mái. Rồi sau đó là KCN được hình thành, con em trong vùng có công ăn việc làm, cuộc sống khá hơn rất nhiều. “Trước đây, con cá, lá rau thì bà con cũng chỉ trao đổi lẫn nhau, không phát triển được. Từ khi có công nhân về nhiều, tất cả mọi thứ đều bán được, thương mại phát triển, thế là kinh tế tự tốt lên thôi”, ông Hoan nhớ lại. Đó là cách nhìn nhận của ông Hoan, một người vừa là dân bản địa, vừa là công nhân trong ngành Dầu khí.

Còn với ông Ngô Văn Kha, Phó giám đốc Công ty Dầu khí Sông Hồng - doanh nghiệp đang trông nom, giữ gìn giếng khoan đầu tiên của ngành Dầu khí, lại có cách nhìn chi tiết và logic hơn. Ông Kha phân tích: Thời đó, khi có các công trình dầu khí, cái được đầu tiên cho địa phương là giao thông. Bởi lẽ vận chuyển các thiết bị siêu trường, siêu trọng thì phải làm đường đi. Có đường như có mạch máu kinh tế, không khí sinh động vui tươi, người dân hy vọng có gì đó đổi mới.

Ông Kha phân tích tiếp, khi phát hiện ra khí thì một loạt các doanh nghiệp được thành lập. Mỏ khí được coi là “máy cái” của KCN. Thời đó, giá trị gia tăng ở KCN Tiền Hải là cao nhất tỉnh Thái Bình. Khi có khí thì mọi loại hình công nghiệp đều phát triển mạnh, ngay cả với các doanh nghiệp không cần đến khí và thu hút được nhiều lao động đến KCN Đông Cơ - Tiền Hải.


Ông Ngô Văn Kha, Phó giám đốc Công ty Dầu khí sông Hồng

Nói về vai trò của mỏ khí Tiền Hải C, ông Đặng Trọng Thăng - Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình cho biết, nhờ có nguồn khí mỏ Tiền Hải C, Thái Bình đã hình thành được KCN Tiền Hải. Các doanh nghiệp tại KCN này sản xuất nhiều sản phẩm: Gạch ốp lát ceramic, granit, sứ vệ sinh, sứ mỹ nghệ, sứ dân dụng, sứ cách điện, thủy tinh dân dụng, thủy tinh y tế, thủy tinh màu cao cấp, xi măng trắng…, trong đó có một số sản phẩm sứ vệ sinh, gạch ốp lát đã xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ…, doanh thu thời đó đạt 360 tỉ đồng/năm, đóng góp ngân sách 9,5 tỉ đồng/năm, thu hút hơn 6.000 lao động, đóng góp lớn vào chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình.

Từ Tiền Hải C đến Hàm Rồng

Sau nhiều năm tiến hành nhiều mũi khoan thăm dò, ngày 18-3-1975 tại giếng khoan 61 thuộc địa phận xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải, đã phát hiện được vỉa khí tại cấu tạo Tiền Hải C với lưu lượng trên 100 nghìn m3/ngày đêm. Tuy có vai trò khai mở cho nguồn năng lượng phục vụ KCN Tiền Hải, nhưng mỏ khí Tiền Hải C là một mỏ khí nhỏ, trữ lượng tại chỗ chỉ hơn 1 tỉ m3, trữ lượng có thể khai thác chỉ khoảng 700-850 triệu m3. Sau 30 năm khai thác đưa vào sử dụng, trữ lượng khí của mỏ Tiền Hải C đã cạn kiệt.

Trước thực trạng đó, các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, sành sứ, thủy tinh tại KCN Tiền Hải phải đối mặt với một khó khăn rất lớn đó là sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn khí mỏ, có thể ngưng trệ sản xuất, công nghệ sản xuất không còn phù hợp với nguồn nguyên liệu mới nên phải cải tiến dẫn đến tốn kém chi phí, chất lượng sản phẩm không cao, khó cạnh tranh trên thị trường, giá trị sản xuất công nghiệp không cao, một số doanh nghiệp có thể phải dừng sản xuất. Trước tình hình đó, các doanh nghiệp phải dần chuyển đổi sang sử dụng các dạng nhiên liệu khác thay thế khí mỏ như dầu (DO, FO), LPG, khí đốt chế biến từ than (lò khí hóa than)…

Để giải quyết tình trạng đó, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam với sự quan tâm giúp đỡ của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, đã triển khai đầu tư thành công 2 dự án để phát triển ngành công nghiệp sử dụng khí mỏ tại tỉnh Thái Bình. Đó là Dự án “Hệ thống thu gom và phân phối khí mỏ Hàm Rồng - Thái Bình Lô 102&106” do Tổng công ty Khí Việt Nam - CTCP (PV GAS) đầu tư với tổng vốn 1.937 tỉ đồng và Dự án “Hệ thống phân phối khí thấp áp cho KCN Tiền Hải”, tổng vốn đầu tư 1.321 tỉ đồng do Công ty CP Phân phối khí thấp áp Dầu khí Việt Nam đầu tư. Sau thời gian triển khai, từ tháng 8-2015, các dự án đã chính thức đi vào hoạt động, để Thái Bình phát triển mạnh công nghiệp sử dụng khí mỏ.

Hiện nay, 2 dự án cung cấp khí mỏ cho 20 doanh nghiệp trong KCN Tiền Hải với sản lượng năm 2018 đạt 76,2 triệu m3. Giá trị sản xuất công nghiệp từ KCN Tiền Hải năm 2018 đạt 4.947,53 tỉ đồng; nộp ngân sách Nhà nước 141,4 tỉ đồng; tạo công ăn việc làm cho 7.301 lao động.

Dẫn các số liệu trên để thấy, từ năm 1985 đến tận thời điểm bây giờ, mối quan hệ giữa ngành Dầu khí và tỉnh Thái Bình là hết sức thân thiết. Và ngành Dầu khí đã đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển của tỉnh Thái Bình, không chỉ trong thời gian đầu khi mới khai thác mỏ khí Tiền Hải C.

Hiện nay, 2 dự án “Hệ thống thu gom và phân phối khí mỏ Hàm Rồng - Thái Bình Lô 102&106” và “Hệ thống phân phối khí thấp áp cho KCN Tiền Hải” cung cấp khí mỏ cho 20 doanh nghiệp trong KCN Tiền Hải với sản lượng năm 2018 đạt 76,2 triệu m3. Giá trị sản xuất công nghiệp từ KCN Tiền Hải năm 2018 đạt 4.947,53 tỉ đồng; nộp ngân sách Nhà nước 141,4 tỉ đồng.

Kỳ VI

Mọi người đều biết đến ông Trương Thiên với vai trò là người đầu tiên hoạch định chiến lược phát triển ngành Dầu khí. Ông Trương Thiên từng là Phó giám đốc Công ty Dầu khí I trước khi giữ các chức vụ quan trọng hơn trong ngành Dầu khí. Ông đã “chèo lái” Công ty Dầu khí I vượt qua giai đoạn đầu tiên rất khó khăn của công ty cũng như của ngành Dầu khí.

Từ cán bộ khoan đến Tổng giám đốc


Ông Trương Thiên

Ông Trương Thiên quê ở Bình Định. Năm 1954, chàng trai Trương Thiên 20 tuổi lên tàu tập kết ra Bắc. Sau những ngày lênh đênh trên biển, con tàu chở ông và những người khác cập bến Quý Cao (Hải Phòng). Sau đó, ông học lớp đào tạo chuyên viên địa chất 6 tháng rồi vác thiết bị đi làm công tác địa chất tại Lào Cai. Ở Lào Cai được 1 năm, ông được điều về làm giảng viên lớp sơ cấp địa chất và 5 năm sau, khi thành lập Tổng cục Địa chất, ông được cử làm Phó trưởng Phòng Kỹ thuật công trình.

Trong những người làm dầu khí đầu tiên ở Việt Nam có nhiều người là kỹ sư, chuyên viên địa chất khoáng sản rắn chuyển qua. Ông Trương Thiên cũng là một trong số đó. Sau khi làm công tác giảng dạy, đến năm 1963, ông được đi cử đi học tại Liên Xô. Tại đây, ông học Khoa Khoan khai thác dầu khí ở Trường Dầu mỏ khí đốt Mátxcơva. Đến năm 1968, ông tốt nghiệp loại xuất sắc và trở thành một trong số ít người đặt nền móng cho ngành khoan Dầu khí Việt Nam.

Nhờ tốt nghiệp loại xuất sắc, đến tháng 2-1969, ông Trương Thiên lại được cử đi học nghiên cứu sinh 3 năm tại Liên Xô. Về nước năm 1972, ông công tác trong ngành Dầu khí tại miền Bắc được 3 năm. Đến tháng 8-1975, ông cùng với các ông Nguyễn Văn Biên, Lê Văn Cự được điều động vào miền Nam chuẩn bị thành lập Tổng cục Dầu khí và Công ty Dầu khí miền Nam.

Công tác tại đây được 3 năm, đến năm 1978, Liên đoàn Địa chất 36 đổi thành Công ty Dầu khí I, ông Trương Thiên được điều động ra làm Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật. Đây là giai đoạn vô cùng khó khăn của ngành Dầu khí cũng như của Công ty Dầu khí I. Thời điểm đó, tuy đã phát hiện được khí và dầu ở miền Bắc, nhưng trữ lượng được đánh giá là rất thấp, chưa mang lại giá trị kinh tế lớn.

Đến năm 1988, ông Trương Thiên được bổ nhiệm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam. Sau này, ông tiếp tục giữ các chức vụ quan trọng trong ngành Dầu khí, nổi bật là Tổng giám đốc đầu tiên của ngành Dầu khí, trợ lý của Thủ tướng Chính phủ về dầu khí.

Người lãnh đạo sâu sát, tận tâm

Khi hỏi những người từng làm việc tại Công ty Dầu khí I về ông Trương Thiên, chúng tôi đều nhận được câu trả lời: Ông là người sống tình cảm, cách cư xử luôn nhẹ nhàng và lịch sự. Những tính cách ấy cũng được ông thể hiện trong phong cách lãnh đạo và xử lý vấn đề - sâu sát, nhẹ nhàng và tận tâm.


Giếng khoan 61 được đặt tại xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Năm 1978, Liên đoàn Địa chất 36 được đổi tên thành Công ty Dầu khí I, lúc đó, công ty có 2.141 cán bộ, công nhân viên. Trong đó, lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ trung cấp, đại học, trên đại học là 369 người và trên 1.000 công nhân khoan, cơ khí, xây lắp lành nghề.

Dưới sự chỉ đạo của Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật Trương Thiên, Công ty Dầu khí I đã đẩy mạnh việc khoan thăm dò bổ sung để đánh giá trữ lượng mỏ khí Tiền Hải C. Trong thời gian từ năm 1981 đến năm 1985, toàn công ty đã thi công gần 39.000m khoan. Kết quả của các giếng khoan đó đã giúp các nhà địa chất - địa vật lý hoàn thành báo cáo trữ lượng mỏ khí Tiền Hải C.

Ngoài công tác khoan, thăm dò từ năm 1981 đến năm 1986, Công ty Dầu khí 1 đã khai thác được trên 120 triệu m3 khí, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế nói chung và nền công nghiệp của tỉnh Thái Bình nói riêng.

Trong giai đoạn này, hình ảnh của Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật Trương Thiên luôn gắn bó với anh em làm địa chất cũng như khoan dầu khí. Ông cùng mọi người luôn có mặt tại các giàn khoan khắp vùng Đồng bằng sông Hồng.

Có thể nói, Công ty Dầu khí I suốt một thời gian dài quản lý, khai thác mỏ khí Tiền Hải, giúp thay đổi đáng kể bộ mặt của khu công nghiệp Tiền Hải nói riêng và tỉnh Thái Bình nói chung. Trong thành tựu chung của Công ty Dầu khí I, dấu ấn của ông Trương Thiên rất rõ nét.

Đến giai đoạn sau năm 1986, sản lượng của mỏ khí Tiền Hải bắt đầu suy giảm, công tác thăm dò dầu khí tại Đồng bằng sông Hồng cũng bước vào giai đoạn cuối. Đây là giai đoạn ông Trương Thiên được bổ nhiệm làm Phó tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí, trực tiếp phụ trách Công ty Dầu khí I, sau đó được bổ nhiệm vào vị trí Tổng cục trưởng năm 1988 với những nhiệm vụ quan trọng, lớn lao hơn.

Đây là giai đoạn đầu của đổi mới kinh tế đất nước, nhu cầu về ngoại tệ để phát triển kinh tế - xã hội rất lớn, đòi hỏi ngành Dầu khí Việt Nam phải phát triển nhanh, mạnh nhưng phải thật vững chắc. Chỉ cần một sơ sẩy nhỏ sẽ không chỉ ảnh hưởng đến ngành Dầu khí mà còn ảnh hưởng lớn đến cả nền kinh tế còn rất mong manh khi ấy.

Trước đòi hỏi đó, Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Trương Thiên tuy mới nhậm chức đã phải bắt tay ngay vào việc hoạch định một chiến lược phát triển lâu dài, bền vững cho ngành Dầu khí. Từ tháng 4-1988 đến tháng 6-1988, ông đã cùng các cộng sự xây dựng Chiến lược dầu khí 2000-2010 và trình bày trước Bộ Chính trị.

Đến ngày 7-7-1988, Bộ Chính trị có Nghị quyết 15-NQ/TW về phương hướng phát triển ngành Dầu khí do Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ký. Đây là cơ sở, là nền tảng cho những bước phát triển mạnh mẽ, vững chắc sau này của ngành Dầu khí.

Từ tháng 4-1988 đến tháng 6-1988, Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí Trương Thiên cùng các cộng sự xây dựng Chiến lược dầu khí 2000 -2010 và trình bày trước Bộ Chính trị. Đến ngày 7-7-1988, Bộ Chính trị có Nghị quyết 15-NQ/TW về phương hướng phát triển ngành Dầu khí. Đây là nền tảng cho những bước phát triển mạnh mẽ, vững chắc sau này của ngành Dầu khí.

Thanh Hiếu - Quang Hưng
(Xem tiếp kỳ sau)


Bình luận
Họ tên
Email
Mã xác nhận
 
 

Tin khác

Cơ quan chủ quản: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Trưởng ban biên tập: Đỗ Chí Thanh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. .
Số giấy phép: 10/GP-TTĐT, cấp ngày: 25/01/2013. Website: www.pvn.vn
Địa chỉ: Số 18 Láng Hạ, Hà Nội. Tel: (84-4) 38252526. Fax (84-4) 38265942
Liên hệ     |    Đánh giá     |    Sitemap     |    Điều khoản sử dụng
Phát triển bởi www.paic.pvn.vn